西方的黄道十二宫来自于希腊的十二宫,起源于古代的巴比伦。它是宇宙中的一条想像的环带。太阳、月亮和其最近的行星沿着这条带子出现和运行。这条带子分成十二等分或记号,每个等分或记号以在这期间出现的星座来命名。黄道带是一个完整无缺的圆圈,黄道十二宫分别表示一个个发展的阶段,黄道带本身是宇宙、生理和心理象征的总和。下面是十二宫的星座之名及其主要象征含义:白羊座=冲动;金牛座=力量;双子座=极;巨蟹座=静态和眷恋;狮子座=生命;室女座=分化,现象论;天秤座=社交,调和对立倾向的中庸;天蝎座=发酵,分解;人马座=本能和较高向往之间的对偶性;摩羯座=上升;宝瓶座=向更高境界过渡;双鱼座=内心世界。尔后人们以此来计算自己的出生年月。人们相信,这些年月所代表的星宿会对人们的性格和命运产生影响。如:出生在白羊座的人被认为是勇敢、热情、武断、易激动和好冲动;生在金牛座期间的人会是注重实际和忠实可靠,但带有一点固执的气味;而典型的双鱼座的人都具有想像力和直觉能力,还严富于同情心的天性,如此等等。
Mười hai cung hoàng đạo của phương Tây xuất phát từ mười hai cung của Hy Lạp, bắt nguồn từ Bolylon cổ đại. Nó là một vòng đai tưởng tượng trong vũ trụ. Mặt trời, mặt trăng và những hành tinh gần nó nhất xuất hiện và vận hành theo vòng đai. Vòng đai này chia thành mười hai phần bằng nhau hoặc kí hiệu, lấy chòm sao xuất hiện trong thời gian này làm tên. Cung hoàng đạo là một vòng tròn hoàn chỉnh, mười hai cung hoàng đạo lần lượt biểu thị từng giai đoạn phát triển, bản thân cung hoàng đạo là một tổng hòa tượng trưng cho vũ trụ, sinh lý và tâm lý. Dưới đây là tên các chòm sao của 12 cung cùng với ý nghĩa tượng trưng chủ yếu của chúng: chòm Bạch Dương (phấn khích), chòm Kim Ngưu (sức mạnh), chòm Song Tử (đỉnh cao), chòm Cự Giải (tĩnh tại và quyến luyến), chòm Sư Tử (sự sống), chòm Thất Nữ (sự phân hóa, hiện tượng luận), chòm Thiên Xứng (xã giao, trung dung điều hòa khuynh hướng đối lập), chòm Thiên Yết (lên men, phân giải), chòm Nhân Mã (tính đối ngẫu giữa bản năng và hướng lên cao), chòm Ma Kiệt(lên cao), chòm Bảo Bình (vượt qua cảnh giới cao hơn), chòm Song Ngư (thế giới nội tâm). Từ đó về sau, người ta lấy đó để tính toán ngày tháng năm sinh của mình. Con người tin rằng, những chòm sao đại diện cho ngày tháng năm sinh này có thể ảnh hưởng đến tính cách và vận mệnh của con người. Như người sinh vào chòm sao Bạch Dương được cho là dũng cảm, nhiệt tình, võ đoán, dễ xúc động và hay xốc nổi, người sinh vào thời kỳ chòm Kim Ngưu sẽ coi trọng thực tế và thành thực đáng tin, nhưng hơi cố chấp; còn người thuộc chòm Song Ngư điển hình đều có sức tưởng tượng và khả năng trực giác, còn có thiên tính dễ thông cảm, v.v…
同西方的黄道十二宫一样,中国自古以来创立了“十二生肖”。中国古代的术数家拿十二只动物来配十二地支:子为鼠、丑为牛、寅为虎、卯为兔、辰为龙、巳为蛇、午为马、未为羊、申为猴、酉为鸡、戍为狗、亥为猪。后以为‘某人生于某年’就肖某物,如子年生的肖鼠,丑年生的肖牛,以此称为“十二生肖”。
Giống như 12 cung hoàng đạo của phương Tây, Trung Quốc từ xưa đã sáng lập “12 con giáp”. Các nhà thuật số Trung Quốc đã phối 12 động vật với 12 địa chi: Tý là chuột, Sửu là trâu, Dần là cọp, Mão là thỏ (ở Việt Nam Mão là mèo), Thìn là rồng, Tị là rắn, Ngọ là ngựa, Mùi là dê, Thân là khỉ, Dậu là gà, Tuất là chó, Hợi là heo. Về sau, lấy “người nào đó sinh vào năm nào” thì cầm tinh con vật nào đó, như cầm tinh chuột là sinh năm Tý, cầm tinh trâu là sinh năm Sửu, gọi đó là “12 con giáp”.
我国文学家兼考古学家郭沫若先生曾对十二支的起源进行了研究和考证,他在《释支干》一文中提出了很重要的看法,认为十二支即古代的十二辰。十二辰是固定于黄道周天的一个环带,假想与天体脱离,并对这一环带进行了十二等分,每辰各三十度。十二辰依子、丑、寅、卯的顺序,由东而西,与日、月五星的运行相反。实际上,中国人的十二辰(即十二生肖)和西方的十二宫并没有什么区别。郭沫若先生因此认定:与西方的十二宫起源于巴比伦一样,中国的十二辰也是古代巴比伦天文学的产物。
Nhà quốc văn học kiêm khảo cổ học Trung Quốc, ông Quách Mạc Nhược đã từng nghiên cứu và khảo chứng nguồn gốc của 12 địa chi. Trong một bài “Thích chi can”(giải thích về can chi) ông đã đưa ra rất nhiều cách nhìn quan trọng, cho rằng 12 chi tức là 12 thần (chỉ chung mặt trời, mặt trăng và những vì sao)cổ đại. 12 thần là một vòng đai cố định ở vòng hoàng đạo, nếu như tách rời thiên thể đồng thời chia vòng đai này thành 12 phần bằng nhau, mỗi thần 30 độ. 12 thần theo thứ tự Tý, Sửu, Dần, Mão, từ đông sang tây, tương phản với sự vận hành của mặt trời, mặt trăng, ngũ tinh. Trên thực tế, 12 thần của người Trung Quốc (tức 12 địa chi) và 12 cung hoàng đạo của phương Tây hoàn toàn không có gì khác biệt. Ông Quách Mạc Nhược do đó cho rằng: 12 địa chi giống như 12 cung của phương Tây bắt nguồn ở Babylon, 12 thần của Trung Quốc cũng là sản vật cuả thiên văn học Babylon cổ đại.
中国发现最早的关于十二属相的记载,是在湖北云梦睡虎地十一号秦墓出土的竹简上。秦墓下葬年代是在秦始皇时期,其竹简年代可追溯到战国晚期,而且云梦秦简中的十二生肖已基本完整。据此,中国十二生肖的出现至迟是在春秋战国时期。因此,我们不说是中国的生肖制度传到了西方,至少独立发展之说是完全可以成立的。
Trung Quốc phát hiện những ghi chép liên quan đến 12 con giáp sớm nhất, trên thẻ tre khai quật được trong mộ thời Tần số 11 ở Thùy Hổ Địa, Vân Mộng, tỉnh Hồ Bắc. Niên đại chôn cất mộ thời Tần là vào thời Tần Thủy Hoàng, niên đại thẻ tre này có thể truy ngược đến cuối thời Chiến Quốc, hơn nữa 12 con giáp trong thẻ tre mộ thời Tần ở Vân Mộng đã cơ bản hoàn chỉnh. Theo đó, sự xuất hiện của 12 con giáp ở Trung Quốc chậm nhất là vào thời Xuân Thu Chiến Quốc. Vì thế, chúng ta không nói chế độ con giáp của Trung Quốc truyền đến phương Tây, ít nhất thì thuyết phát triển độc lập hoàn toàn có thể thành lập.
