Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương

雄王祭祀信仰 — TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG HÙNG VƯƠNG

雄王庙会,又称雄王忌日(雄王祭祖日),是一项重要的传统节日,旨在缅怀并表达对雄王—越南民族最早建立国家的诸位君王的感恩之情。

Lễ hội Đền Hùng còn gọi là Giỗ Tổ Hùng Vương, là một lễ hội lớn nhằm tưởng nhớ và tỏ lòng biết ơn công lao lập nước của các vua Hùng, những vị vua đầu tiên của dân tộc.

雄王祭祀日每年农历三月初十在越南富寿省越池市的雄王庙举行。在此之前的一周,庙会已陆续开展多种民间文化活动,并在农历三月初十当天以迎轿仪式及上香祭拜雄庙上殿作为高潮与结束。

Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương diễn ra vào ngày mồng 10-3 âm lịch hàng năm tại Đền Hùng, Việt Trì, Phú Thọ. Trước đó hàng tuần, lễ hội đã diễn ra với nhiều hoạt động văn hóa dân gian và kết thúc vào ngày 10-3 âm lịch với Lễ rước kiệu và dâng hương tại Đền Thượng.

自古以来,雄王祭祀日在越南人的精神与信仰中占有极其重要的地位。根据一份成文于陈朝时期、并在黎圣宗时期(1470年)以及黎敬宗时期(1601年)被抄录并加盖印章、保存在雄王庙中的神谱记载:“自赵朝、丁朝、黎朝、李朝、陈朝直至我朝洪德后黎时期,历代王朝皆在中义村之庙宇中持续供奉香火。用于祭祀的田地与赋税自古沿袭,未曾改变。”

Từ xa xưa, ngày Giỗ Tổ Hùng Vương đã có vị thế đặc biệt trong tâm thức của người Việt. Bản ngọc phả viết thời Trần, năm 1470 đời vua Lê Thánh Tông và đời vua Lê Kính Tông năm 1601 sao chép đóng dấu kiềm để tại Đền Hùng, nói rằng: “…Từ nhà Triệu, nhà Đinh, nhà Lê, nhà Lý, nhà Trần đến triều đại ta bây giờ là Hồng Đức Hậu Lê vẫn cùng hương khói trong ngôi đền ở làng Trung Nghĩa. Những ruộng đất sưu thuế từ xưa để lại dùng vào việc cúng tế vẫn không thay đổi”.

由此可见,在后黎朝及其之前的各个朝代,雄王庙通常由当地百姓直接管理与维护,负责修缮、祭祀及每年农历三月初十的祭祖活动。作为回报,他们可免除约500亩田地的赋税以及徭役与兵役。
Như vậy, có thể hiểu từ thời Hậu Lê trở về trước các triều đại đều quản lý Đền Hùng theo cách giao thẳng cho dân sở tại trông nom, sửa chữa, cúng bái, làm Giỗ Tổ ngày 10-3 âm lịch. Bù lại họ được miễn nộp thuế 500 mẫu ruộng, miễn đóng sưu, miễn đi phu đi lính.

至阮朝启定二年(1917年),富寿巡抚黎忠玉向礼部奏请,将每年农历三月初十定为全国性的祭典日(国祭、国忌日)。这一制度后来也在富寿省巡抚裴玉环于保大十五年(1940年)所立的“雄王考证碑”中得到确认,该碑现仍立于雄山雄庙上殿,记载:“此前国祭多定于秋季。至启定二年(公历1917年),富寿巡抚黎忠玉致函礼部,请将每年三月初十定为国祭日,即雄王第十八世忌日前一日。正日(三月十一日)则由当地民众举行祭礼。”自此,雄王祭祀日(农历三月初十)逐渐被正式制度化。

Đến đời nhà Nguyễn vào năm Khải Định thứ 2 (1917), Tuần phủ Phú Thọ Lê Trung Ngọc đã trình bộ Lễ định ngày 10-3 âm lịch hàng năm làm ngày Quốc tế (Quốc lễ, Quốc giỗ). Điều này được tấm bia Hùng Vương từ khảo do Tham tri Bùi Ngọc Hoàn, Tuần phủ tỉnh Phú Thọ, lập năm Bảo Đại thứ 15 (1940) cũng đang đặt ở Đền Thượng trên núi Hùng, xác nhận: “Trước đây, ngày Quốc tế lấy vào mùa thu làm định kỳ. Đến năm Khải Định thứ hai (dương lịch là năm 1917), Tuần phủ Phú Thọ là Lê Trung Ngọc có công văn xin bộ Lễ ấn định ngày mồng 10-3 hằng năm làm ngày Quốc lễ, tức trước ngày Giỗ Tổ Hùng Vương đời thứ 18 một ngày. Còn ngày giỗ (11-3) do dân sở tại làm lễ”. Kể từ đây, Giỗ Tổ Hùng Vương ngày 10-3 âm lịch hàng năm được chính thức hóa bằng luật pháp.

1945年八月革命后,越南共产党和国家高度重视雄王庙。胡志明主席及多位党和国家领导人曾亲临祭拜。继承“饮水思源”的优良传统,新成立的政府很快在1946年2月18日颁布第22号总统令,规定公务人员可在农历三月初十放假,以参与雄王祭祖活动,强化民族根源意识。

Sau cách mạng tháng Tám (1945) Đảng, Nhà nước ta rất quan tâm tới Đền Hùng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đều đã về thăm viếng tại đây. Kế tục truyền thống cao đẹp của cha ông, nhất là đạo đức “uống nước nhớ nguồn”, ngay sau cách mạng thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh của Chủ tịch nước số 22/SL-CTN ngày 18- 2-1946 cho công chức nghỉ ngày 10-3 âm lịch hàng năm để tham gia tổ chức các hoạt động Giỗ Tổ Hùng Vương – hướng về cội nguồn dân tộc.

在1946年丙戌年祭典中,时任越南国家主席代行者黄叔抗曾敬献一幅越南地图与一把宝剑,以告慰祖先国家正遭侵略,并祈愿国泰民安、天下太平、全民团结抗敌、保卫国土完整。

Trong ngày Giỗ Tổ năm Bính Tuất (1946) – năm đầu tiên của Chính phủ mới được thành lập, cụ Huỳnh Thúc Kháng – Quyền Chủ tịch nước đã dâng một tấm bản đồ Tổ quốc Việt Nam và một thanh gươm quý nhằm cáo với tổ tiên về đất nước bị xâm lăng và cầu mong tổ tiên phù hộ cho quốc thái dân an, thiên hạ thái bình cùng nhau đoàn kết, đánh tan giặc xâm lược, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.

胡志明主席曾两次访问雄王庙(1954年9月19日与1962年8月19日)。他在此留下了著名论断:“雄王有功建国,后辈必须共同守护国家。”同时他还强调:“要注意保护并多种植花草树木,使雄王庙更加庄严美丽,成为后人参观学习的历史公园。”

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã có hai lần về thăm Đền Hùng (19-9-1954 và 19-8-1962). Tại đây Người đã có câu nói bất hủ: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước – Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Người còn nhắc: “Phải chú ý bảo vệ, trồng thêm hoa, thêm cây cối để Đền Hùng ngày càng trang nghiêm và đẹp đẽ, thành công viên lịch sử cho con cháu sau này đến tham quan”.

1995年,雄王祭祀日被越南中央书记处正式列为全国重要节日。文化、信息与体育部门联合相关机构,将庙会活动延长至10天(农历三月初一至初十)。

Năm 1995, ngày Giỗ Tổ Hùng Vương đã được Ban Bí thư ghi trong thông báo là ngày lễ lớn trong năm. Ngành văn hóa thông tin – thể thao phối hợp với các ngành chức năng đã tổ chức lễ hội trong thời gian 10 ngày (từ ngày 1-3 đến ngày 10-3 âm lịch).

2012年12月6日,联合国教科文组织正式将“富寿雄王信仰”列入人类非物质文化遗产代表作名录,认为其体现了越南民族团结精神与“饮水思源”的传统价值。

Ngày 6-12-2012, UNESCO đã chính thức công nhận “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ”, biểu tượng của tinh thần đại đoàn kết, truyền thống đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam, là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

雄王祭祀节—雄王庙会,不仅是弘扬“饮水思源”传统、缅怀雄王建国功绩与历代先烈保家卫国精神的重要时刻,同时也是向世界展示这一延续数千年、深植民族精神与文化认同的珍贵非物质文化遗产的重要窗口。它已成为越南全民共同铭记胡志明主席嘱托——“各位雄王有功立国,我们后代应努力护国”的重要象征。

Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng là dịp để giáo dục truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, lòng biết ơn sâu sắc các Vua Hùng đã có công dựng nước và các bậc tiền nhân kiên cường chống giặc ngoại xâm giữ nước, đồng thời còn là dịp quan trọng để chúng ta quảng bá ra thế giới về một Di sản vô cùng giá trị, độc đáo, đã tồn tại hàng ngàn năm, ăn sâu vào tâm hồn, tình cảm, trở thành đạo lý truyền thống của đồng bào cả nước, kiều bào ta ở nước ngoài, là ngày để toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta cùng nguyện một lòng mãi khắc ghi lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước – Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Lên đầu trang