在中国,人们初次见面,彼此往往要问:”您贵姓?””您的名字怎样称呼?”找人、打电话、寄信、考试答卷,更是离不开人的姓氏和名字。姓氏和名字是识别人的重要标志,是人们交往的必要工具。
Ở Trung Quốc, mọi người gặp nhau lần đầu tiên, thường hỏi nhau: “Anh họ gì?”, “Tên anh gọi thế nào?” Tìm người, gọi điện thoại, gửi thư, thi cử càng không thể thiếu họ và tên. Họ và tên là tiêu chí quan trọng để phân biệt người này với người khác, là công cụ cần thiết để mọi người giao thiệp với nhau.
中国姓氏的起源
Nguồn gốc họ của người Trung Quốc
姓是有共同血缘关系的家庭的称号。姓起源于原始社会母系氏族社会,那时候,人们都以母亲为中心,同一个母亲的后代形成一个集团,叫母系氏族。婚姻只在不同的母系氏族之间进行。为了区别婚姻和家族,就逐渐把姓作为一个家族的称号了。在母系氏族里,子女都取母亲的姓,并且同姓不能结婚。这些都说明姓是起源于母系氏族社会的。
Họ là tên gọi của những gia đình có cùng quan hệ huyết thống. Họ bắt nguồn từ xã hội thị tộc mẫu hệ của xã hội nguyên thủy, lúc đó, mọi người đều lấy người mẹ làm trung tâm, đời sau của cùng một người mẹ hình thành một tập đoàn, gọi là thị tộc mẫu hệ. Hôn nhân chỉ được tiến hành giữa những thị tộc mẫu hệ khác nhau. Để phân biệt hôn nhân và gia tộc, họ dần dần đã trở thành tên gọi của một gia tộc. Trong thị tộc mẫu hệ, dù là con trai hay con gái, đều lấy theo họ của mẹ, đồng thời cùng họ thì không được kết hôn. Những điều này chứng minh họ được bắt nguồn từ xã hội thị tộc mẫu hệ.
中国有多少姓氏?
Trung Quốc có bao nhiêu họ?
说起姓氏来,中国人马上会想到《百家姓》,《百家姓》是宋代人写的关于姓氏的书,里面共有494个姓。最近有人把中国古今姓氏收集到一起,姓氏已超过8000多个,目前汉族使用的姓氏大概有3000个左右。
Khi nói đến họ, người Trung Quốc sẽ nghĩ ngay đến “Bách Gia Tính”, “Bách Gia Tính” là quyển sách do người đời Tống viết về họ, trong đó có tổng cộng 494 họ. Gần đây có người đã thu thập tất cả họ của người Trung Quốc từ cổ chí kim lại với nhau, và đã có hơn 8000 họ, hiện nay, họ mà người Hán sử dụng có khoảng trên dưới 3000.
中国的姓氏分为单姓和复姓两种,其中单姓多,复姓少,如《百家姓》里的单姓有434个,而复姓只有60个。俗话说”张王李赵遍地刘(流)”,意思是张、王、李、赵、刘这五个姓是中国最多的单姓,其中姓张的最多。不过,最新的统计结果告诉我们,现在中国人姓李的最多了,新的排列是李、王、张、刘、陈。姓氏中由两个或两个以上的字组成的复姓是很少的,最常见的复姓是诸葛、欧阳、司马、端术、公孙等。
Họ của người Trung Quốc được chia thành hai loại, họ đơn và họ kép, trong đó, họ đơn nhiều, họ kép ít, như trong “Bách Gia Tính” họ đơn có 434 họ, còn họ kép chỉ có 60. Tục ngữ nói “Trương -Vương – Lý – Triệu biến địa Lưu (lưu)”, có nghĩa là Trương, Vương, Lý, Triệu, Lưu 5 họ đơn này nhiều nhất ở Trung Quốc, trong đó, họ Trương là nhiều nhất. Nhưng, theo kết quả thống kê mới nhất cho thấy, hiện nay ở Trung Quốc nhiều nhất là họ Lý, xếp theo thứ tự mới là: Lý, Vương, Trương, Lưu, Trần. Họ kép do hai chữ hoặc hai chữ trở lên tạo thành rất ít, những họ kép thường thấy là: Gia Cát, Âu Dương, Tư Mã, Đoan Mộc, Công Tôn v.v.
按照传统习惯,中国人一般姓父亲的姓,只有少数人姓母亲的姓。女子结婚后,仍然用原来的姓,不用改姓。
Theo tập quán truyền thống, người Trung Quốc đa số lấy theo họ cha, chỉ có một số ít lấy theo họ mẹ. Con gái sau khi kết hôn vẫn giữ nguyên họ của mình chứ không cần đổi họ.
