Việc sưu tầm của cha

父亲的收藏 — VIỆC SƯU TẦM CỦA CHA

父亲收藏的历史无从考证。从我记事起,我就看见他整日佝倭着腰,肩上搭着一个破麻袋,手里拿着铁钩子,为了一点可怜的收藏物四处奔波。可以说,收藏伴随了父亲整整一生。

Lịch sử sưu tầm của cha không cách gì khảo chứng được. Từ lúc tôi nhớ được sự việc, tôi đã thấy cha suốt ngày khom lưng, trên vai vác cái bao tải cũ nát, tay cầm móc câu sắt, bôn ba khắp nơi để gom nhặt chút đồ sưu tầm tồi tàn. Có thể nói, việc sưu tầm này đã theo cha suốt cả cuộc đời.

严格地说,父亲的业余活动根本谈不上收藏。他的收藏纯粹是一个平民为了生活而无奈进行的,与那些社会名流及富有的收藏者风马牛不相及。因为他收藏的物品其实都是别人丢弃的、无用的废物。

Nói một cách nghiêm túc, hoạt động nghiệp dư của cha cơ bản không thể nói là sưu tầm. Việc sưu tầm của ông thuần túy là việc mà một người bình thường đành phải làm vì cuộc sống, không thể so với những nhà sưu tầm giàu có và danh giá trong xã hội. Vì những vật mà ông sưu tầm thật ra đều là những phế phẩm vô dụng mà người khác vứt đi.

父亲是连队的一个牧羊人,他卑微地生活在这个世界上,在旁人眼里似有若无,只有那群不会说话的绵羊知道他的存在。他生养了我们弟兄几个,让我们活下来的信念在他骨子里像山一样没有崩溃,在我们兄弟眼里,他是一匹疲惫的老马,拉着满载家庭重负的破车,在生活的道路上艰难跋涉。

Cha là một người chăn cừu trong đội sản xuất, ông sống một cách âm thầm nhỏ bé trên thế giới này, trong mắt của những người xung quanh như không hề có ông, chỉ có đàn cừu không biết nói là biết đến sự tồn tại của ông. Cha nuôi dưỡng mấy anh em chúng tôi, khiến niềm tin tiếp tục sống của chúng tôi vững chắc như ngọn núi trong thâm tâm ông, trong mắt anh em chúng tôi, cha là con ngựa già nua kiệt sức, kéo chiếc xe tàng chất đầy gánh nặng gia đình, lặn lội vất vả trên con đường cuộc sống.

父亲的收藏毫无规律,无章可循,他几乎遇见什么就捡拾什么。在连队的早晨,中午或者黄昏,在家属区的垃圾坑、废弃的旧房子、路边的林带,总有一个罗圈腿、弓着腰的老头在拼命拨拉、寻觅着什么。身上破旧航脏的黄军装泛着白花花的汗碱,几只绿头苍蝇围着他嗡嗡转。不用细看,他就是我的父亲。

Việc sưu tầm của cha không hề có quy luật, không tuân theo điều lệ nào, ông gần như gặp cái gì là lượm cái đó. Sáng sớm thì ở đội, trưa hoặc chiều tối thì ở những hố rác của khu nhà ở, những căn nhà cũ bỏ hoang, dải rừng hai bên đường luôn có một ông lão chân vòng kiềng, còng lưng ráng sức nhặt nhạnh, tìm kiếm cái gì đó. Bộ quân trang màu vàng bẩn thỉu, cũ kĩ, rách rưới trên người ông nổi lên những vết ố mồ hôi trắng xóa, mấy con ruồi xanh vo vo bay quanh. Không cần nhìn kĩ, ông chính là cha tôi.

父亲把捡拾来的东西背回来,然后分门别类,把布鞋、塑料鞋、酒瓶子、铁丝各自装人麻袋。院子里、家里堆得满满当当:摇摇晃晃的饭桌下面是脱粒过的包谷芯子,那是晚饭后父亲挠痒用的,这是他一天最惬意的时刻;几个灌满肥皂水的农药瓶子躺在土灶旁,是消毒后用来装酱油醋的;院子里搭衣服的长长铁丝上,挂满了夏天碧绿的红薯秧子、秋天散了心的白菜子、霜打过的红萝卜缨子;门口的三个大缸,已经烂得四分五裂,用水泥沙浆勾了缝,周身用铁丝箍着,是用来腌咸菜的;旁边几个圆圆的卵石,是压咸菜的;几个身高参差不齐的半大小子,在院子里追逐着打四角牌,这就是父亲的全部家当。

Cha vác những thứ lượm được về, sau đó phân loại, xếp giày vải, giày nhựa, chai đựng rượu, dây kẽm vào bao tải. Trong nhà ngoài sân chất đầy, nào là: bên dưới cái bàn ăn lung lay là những lõi bắp đã tuốt hạt, đó là thứ cha dùng để gãi ngứa sau khi ăn cơm tối, đây là thời khắc thoải mái nhất trong ngày của ông; mấy vỏ chai thuốc trừ sâu chứa đầy nước xà phòng nằm lăn cạnh bếp, dùng đựng giấm và xì dầu sau khi đã khử trùng; trên dây kẽm dài mắc quần áo ngoài sân treo đầy hạt giống khoai lang xanh mùa hạ, rau cải thảo giải khuây cho mùa thu, chùm cà rốt phơi sương; ba cái vại lớn ở cửa đã nứt ngang nứt dọc, được trám lại bằng vữa xi măng nhão, quanh thân được đóng đai bằng sợi kẽm, dùng để muối rau; mấy hòn đá cuội tròn tròn bên cạnh dùng để dằn rau muối; mấy đứa choai choai cao thấp lỡ cỡ đang chạy đuổi chơi đánh bài tứ giác trong sân, đây chính là toàn bộ gia sản của cha.

捡拾的废品攒满一麻袋后,父亲就把麻袋驮到马背上,来到废品收购站卖掉。这一天我们比过节还要兴奋,中午早早地依偎在院子门口,眼巴巴等着父亲回来。远远看见父亲骑着马归来,我们就像一个月看一次电影一样高兴。父亲带给我们的是几米布衣料、一卷母亲纳鞋底的棉线绳,腌咸菜的颗粒盐和酱油、醋、火柴、煤油;还有几枝铅笔、橡皮和拼音本;遇到父亲高兴,还会给我们带几粒平时很少见的薄荷糖和几块团部食品厂生产的香甜的黑面包。

Sau khi nhặt phế phẩm gom đầy bao tải, cha đem cái bao thồ lên trên lưng ngựa, đến trạm thu mua phế phẩm bán đi. Ngày này chúng tôi còn phấn khởi hơn cả ăn tết, buổi trưa đã sớm dựa vào cổng sân, mong mỏi đợi cha về. Thấy cha từ xa cưỡi ngựa về, chúng tôi vui mừng như là một tháng được xem phim một lần. Cha đem về cho chúng tôi mấy mét vải bố, một cuộn sợi bông cho mẹ lót đế giày, muối hột để muối rau và xì dầu, giấm, diêm, dầu hoả; còn có mấy cây bút chì, cục gôm và sách ghép vần; gặp lúc cha vui, còn có thể cho chúng tôi mấy viên kẹo bạc hà mà bình thường rất ít thấy cùng với mấy miếng bánh mì đen thơm ngọt do nhà máy thực phẩm đoàn bộ sản xuất.

有一年春天青黄不接,四处弥漫飞舞的各类不知名的小蜢虫几乎遮住了太阳,它们将垦区所有的树叶啃噬得干干净净,戈壁滩上的野菜叶子也被咬得支离破碎。妈妈天天给我们熬玉米粥就腌萝卜条,而这样的日子眼看也快要断顿了。父亲卖光了所有的藏品,日子也维持不到月底。家里养了几年的大黄猫,在一天夜里悄无声息地不辞而别,从此再也没有回来。只有黑狗仍然忠实地陪伴着我们,只是在我们吸溜吸溜喝粥时不停地用身子摩擦我们的裤腿,两眼可怜巴巴地望着我们。这一天晚上,在昏暗的煤油灯下,父亲叹着气,蹲下身子从床底下捞出一副马鞍子,然后失神地端详着它。这样专注的神情我们很少看见,被生活压弯了腰的父亲甚至很少用这样的眼光看我们。这副马鞍子年代已经很久远了,弥漫着一股陈年的膻味和战争的硝烟,铜制的铆钉锈迹斑斑;但从外表看整个做工却非常精细,鞍头上镌刻的神秘花纹,显然出自能工巧匠之手;用细皮条编织的精美穗子挂在两边,依然散发着陈旧而古典的光泽。

Có một mùa xuân giáp vụ, tứ phía bị các loại châu chấu không rõ tên gì bao phủ tựa hồ che kín cả mặt trời, chúng nó ngoạm sạch tất cả lá cây ở khu khai khẩn, những lá rau dại trên sa mạc Gôbi cũng bị cắn tơi tả. Mẹ ngày ngày nấu cháo ngô ăn với lát củ cải muối cho chúng tôi, nhưng những ngày như vậy xem ra cũng sắp đứt bữa. Cha bán sạch tất cả phế phẩm cũng không kéo dài được đến cuối tháng. Con mèo mướp nuôi mấy năm trong nhà, trong một đêm đã im hơi lặng tiếng không từ mà biệt, từ đó không trở về nữa. Chỉ còn con chó mực thì vẫn trung thành bầu bạn với chúng tôi, chỉ tội lúc chúng tôi xì xụp húp cháo thì nó không ngừng cọ mình vào ống quần chúng tôi, hai mắt tội nghiệp dõi theo. Tối hôm đó, dưới ánh đèn dầu lờ mờ, cha thở dài, ngồi xổm xuống lôi từ dưới gầm giường ra một cái yên ngựa, rồi ngắm nhìn nó một cách thất thần. Vẻ mặt chăm chú như vậy chúng tôi rất ít thấy, cha bị cuộc sống đè oằn lưng đến mức rất hiếm khi nhìn chúng tôi bằng ánh mắt như vậy. Niên đại của cái yên ngựa này đã rất xa xưa, nó phủ đầy cái mùi hăng hăng cũ kỹ và khói bụi chiến tranh, những cái đinh tán bằng đồng đã rỉ sét lốm đốm, nhưng nhìn bề ngoài thì toàn bộ được gia công rất tinh tế, những hoa văn thần bí được điêu khắc trên đầu cái yên, chứng tỏ nó được làm ra từ bàn tay của người thợ có tay nghề cao; cái tua sắc sảo được dệt bằng dây da nhỏ móc ở hai bên vẫn toát ra ánh sáng cũ kỹ mà cổ điển.

我知道,父亲曾是部队的一名骑兵,这副马鞍子陪伴他度过了那段难忘的军旅生涯,平时藏在床底下,谁也不让动,只有开春的时候,父亲才拿出来在墙根下晒晒太阳。遇到他难得高兴的时候,会给我们弟兄几个讲他过去与战马的故事,但每次都重复啰嗦,后来我们也听腻了听烦了。我们有时候甚至有点儿嫉妒,父亲对马鞍子比对我们兄弟几个都好。父亲的老朋友、牧羊人贾法得知父亲藏有一副马鞍子,多次上门央求以物换取,都被父亲沉着脸一口回绝。

Tôi biết cha đã từng là một kỵ binh bộ đội, cái yên ngựa này đã bầu bạn cùng cha trải qua một đoạn đời quân ngũ khó quên, bình thường, cha cất dưới gầm giường, ai cũng không cho động đến, chỉ khi vào mùa xuân, cha mới cầm ra chân tường phơi nắng. Gặp những lúc vui vẻ hiếm hoi, cha kể cho anh em chúng tôi nghe những chuyện cha cùng chiến mã trước đây, nhưng lần nào cũng lặp lại lộn xộn như nhau, sau này chúng tôi đã nghe đến chán ngấy. Thậm chí có lúc chúng tôi còn hơi đố kị, cha còn quý cái yên hơn anh em chúng tôi. Ông bạn già của cha, người chăn dê tên Cổ Pháp biết được cha có một cái yên ngựa, nhiều lần đến tận nhà nài nỉ dùng vật đổi lấy, đều bị cha sầm mặt, một mực từ chối.

这天晚上天黑透了,父亲一句话没说,铁青着脸扛起马鞍子出了家门。第二天起床,我们看见屋子中央堆着满满两麻袋玉米棒子。父亲用马鞍子换了贾法的玉米。

Tối hôm đó, trời đã tối sẫm, cha không nói câu nào, mặt tái đi vác cái yên ngựa ra khỏi cửa. Hôm sau thức dậy, chúng tôi thấy giữa nhà chất đầy hai bao tải ngô. Cha đã đem cái yên ngựa đổi lấy ngô của Cổ Pháp.

这年秋天,连队的秋收结束后,父亲每天天不亮就赶羊似的把我们兄弟几个往地里赶,拼命四处搜索、捡拾地里遗落的玉米。连队所有的玉米秆子都被我们兄弟几个翻了个遍,我家院子里堆满了金黄色的玉米棒子。下酷霜的一个早晨,父亲装了满满两麻袋玉米,推着架子车一声不吭地走了。中午,父亲拉着架子车回来了,两麻袋玉米不见了,上面放着他的马鞍子。

Mùa thu năm đó, sau khi thu hoạch xong vụ mùa của đại đội, mỗi ngày trời chưa sáng cha đã lùa mấy anh em chúng tôi ra đồng giống như lùa dê, ra sức sục sạo khắp nơi, thu gom những hạt ngô rơi vãi. Tất cả thân ngô của đại đội đều bị mấy anh em tôi đảo qua mấy bận. Trong sân nhà tôi chất đầy ngô vàng óng. Một buổi sáng sương xuống dày đặc, cha chất đầy hai bao tải ngô đẩy lên xe ba gác, đi không nói tiếng nào. Trưa, cha kéo xe ba gác về, hai bao tải ngô đã không thấy nữa, phía trên đặt cái yên ngựa của cha.

从这以后,这副马鞍子就再也没有离开过父亲。

Từ đấy về sau, cái yên ngựa này không rời xa cha nữa.

父亲为了把我们养大,他宁愿历经人间艰辛和苦难。在别人鄙视不屑的眼色里,他若有若无的生活在这个世界上,做着自己愿意做的事情。

Cha vì nuôi lớn chúng tôi mà cam tâm trải qua những đắng cay và khổ cực của nhân gian. Trong ánh mắt xem thường của người khác, cha sống trên thế giới này như có như không, làm những việc mà mình muốn làm.

在那个短缺的年代里,父亲拼命劳动着,拼命地寻找着废品。为了攒够我们每学期不算昂贵的学费,除了购买一些必需品,别的都不买。钥匙拴在一个尖尖的羚羊角上,那只羚羊角牢牢地用皮绳在他裤腰带上系了一个死结,随身不离,被磨得乌黑晶亮。有时候,嘴馋的我们为了买几个海棠果和几根冰棍,弟兄几个趁他深夜熟睡时,悄悄解下羚羊角,从箱子里偷出几毛钱,再把钥匙按原样拴在父亲的裤腰带上。连续几次后,很快被精明的父亲发现,他再也不把钱放在箱子里了,而是趁我们不在时,藏在我们谁也找不到的地方。后来我们弟兄几个绞尽脑汁,家里所有的地方都找遍了,也没有找到一分钱。

Trong những năm thiếu thốn đó, cha đã dốc sức lao động, ra sức tìm kiếm phế phẩm. Để gom đủ tiền học phí không đắt lắm ở mỗi học kỳ cho chúng tôi ngoại trừ mua một số thứ cần thiết, những thứ khác cha đều không mua. Chìa khóa được buộc trên một cái sừng linh dương nhọn hoắt, cái sừng linh dương đó được thắt chặt trên thắt lưng của cha bằng một sợi dây da bền chắc, không rời khỏi người, nó được mài đến đen bóng. Có những lúc, để mua mấy quả hải đường và mấy que kem, lũ tham ăn chúng tôi canh lúc đêm khuya cha ngủ say, nhẹ nhàng tháo sừng linh dương, ăn trộm trong rương mấy hào, rồi đem chìa khóa buộc y nguyên trên dây thắt lưng của cha. Sau vài lần liên tiếp, chẳng mấy chốc đã bị cha tinh tường phát hiện. Cha không còn để tiền trong rương nữa, mà nhân lúc chúng tôi không có nhà, giấu ở một chỗ mà chúng tôi ai cũng không thể tìm được. Về sau, mấy anh em tôi vắt óc, tìm khắp tất cả mọi chỗ trong nhà cũng không tìm ra một xu.

只是有一次下大雨,把堆放柴火的棚子淋塌了,我们在扒房子时,从塌了的房梁上发现了一个用细绳密密麻麻捆着的布包,打开一看,里面是整整齐齐一沓子钞票!

Chỉ có một lần trời mưa to, cái lều chất củi bị ướt sũng sập xuống khi chúng tôi dỡ nhà thì phát hiện trên xà nhà bị sụp có một túi vải buộc chi chít dây nhỏ, mở ra xem, bên trong xếp ngay ngắn một xấp tiền giấy!

后来我们长大了,都有了工作,但收藏废品仍然是父亲的最爱。家里的牙膏盒、空纸箱、旧鞋子,他一个不丢,认认真真地收藏起来,院子里堆的到处都是。不是为了卖钱,而是为了满足他那根深蒂固的收藏欲。他天天做的事情,已经习惯了,一天不做,心里就发慌,总觉得日子缺少点儿什么。

Sau này, chúng tôi lớn lên, đều đã có việc làm, nhưng thu gom phế phẩm vẫn là việc yêu thích nhất của cha. Vỏ hộp kem đánh răng, hộp giấy không, giày cũ trong nhà, cha không vứt cái nào, cẩn thận cất giữ lại, khắp nơi trong sân đều chất những thứ đó. Không phải để bán lấy tiền, mà là để thỏa mãn lòng ham sưu tầm thâm căn cố đế của cha. Việc mỗi ngày cha làm đã quen, một ngày không làm, trong lòng liền bồn chồn, luôn cảm thấy cuộc sống thiếu chút gì.

有时候,我们弟兄几个回家,趁他不注意,把一些乱七八糟的破烂东西扔得远远的。我们暗自得意,可没过几天,被我们扔掉的东西又一个不少地被父亲捡了回来,原封不动地放在原处。

Có những lúc, mấy anh em tôi về nhà, nhân lúc cha không để ý, chúng tôi vứt những thứ rách nát, lộn xộn đi thật xa. Chúng tôi âm thầm đắc ý, nhưng chưa qua được mấy ngày, những thứ bị chúng tôi vứt đi lại được cha tôi nhặt về không thiếu cái nào, để nguyên chỗ cũ.

生活好了,日子也觉得过得特别快。年过八旬的老父亲,在一天夜里终于瘫痪在床,从此他的生活需要我们料理。我们兄弟几个决定把老房子卖掉,把父亲接到我们身边,轮流伺候尽孝心。在我们弟兄几个处理他的收藏品的时候,神志不清的父亲显得很痛苦,但又无可奈何,只是我们把那副马鞍子从床底下拉出来时,他一下子显得很激动,睁大眼睛挣扎着要坐起来,嘴里呜里哇啦地大声叫嚷,我明白了他的意思,附在他的耳边告诉他,马鞍子不卖,继续给你留着,他才慢慢平静下来。

Cuộc sống khấm khá, tháng ngày cũng thấy trôi qua nhanh. Cha đã qua tuổi tám mươi, cuối cùng trong một đêm đã nằm liệt giường, từ đó, cuộc sống của cha cần chúng tôi chăm lo. Mấy anh em tôi quyết định bán căn nhà cũ, đón cha về sống bên cạnh chúng tôi, thay phiên nhau hầu hạ, hết lòng hiếu thảo với cha. Khi mấy anh em tôi xử lí những đồ phế phẩm cất giữ của cha, cha thần trí không tỉnh táo lại tỏ vẻ rất đau khổ, nhưng không có cách nào khác, chỉ khi chúng tôi lôi cái yên ngựa từ gầm giường ra, cha bỗng tỏ ra rất xúc động, mở to mắt, giãy giụa muốn ngồi dậy, miệng kêu u oa u oa, tôi hiểu ý cha nên nói kề bên tai cha, cái yên ngựa không bán, vẫn giữ lại cho cha, cha mới dần dần bình tĩnh lại.

父亲的收藏就这样结束了。他收藏一生,惟一留下的藏品——那副破旧不堪的马鞍子,也随着他走到哪里,搬到哪里,轮流由我们兄弟几个收藏,伴随着他的晚年。至于它的最后归宿,已经失语的父亲已无法交代。只是有一次,我看见他独自一人坐在床上,长时间地望着墙角的马鞍子愣愣发呆,傍晚的余晖弥漫在他身上,使沉浸在往事中的父亲显得更加孤独。我慢慢走过去,上前搂住他的肩膀悄悄告诉他:你走的时候,我把马鞍子放进灵柩里,让战马永远陪伴着你。父亲吃力地听完我说的话,缓缓抬起头,两眼定定望着我,混浊的眼睛骤然放出光来,摇摇晃晃举起他的右手,重重地在我的肩膀上拍了一下。这时候我发现,一生倔强、从不流泪的父亲突然老泪纵横。

Việc sưu tập của cha đã kết thúc như vậy. Cha sưu tầm cả đời, vật sưu tầm duy nhất còn lại – cái yên ngựa cũ nát đó, cha đi đâu thì theo cha đến đấy, do mấy anh em tôi thay phiên nhau cất giữ, bầu bạn cùng tuổi xế chiều của cha. Còn về chỗ quy tụ cuối cùng của nó, cha đã không nói được nên không có cách nào bàn giao lại. Chỉ có một lần, tôi nhìn thấy cha một mình ngồi trên giường, ngây người nhìn cái yên ngựa ở góc tường khá lâu, ánh mặt trời chạng vạng bao phủ trên thân cha khiến người cha đang chìm đắm trong những chuyện dĩ vãng tỏ ra càng thêm cô độc. Tôi chầm chậm đi tới, đến phía trước ôm chặt vai cha, khe khẽ nói: Khi nào cha đi, con sẽ đặt cái yên ngựa vào trong linh cữu, để chiến mã mãi bầu bạn với cha. Cha khó nhọc nghe xong những lời tôi nói, từ từ ngẩng đầu lên, hai mắt chằm chằm nhìn tôi, đôi mắt đục ngầu bỗng nhiên phát sáng, run rẩy nhấc tay phải lên, nặng nề vỗ lên vai tôi một cái. Lúc này, tôi nhận ra người cha cả đời cứng rắn, chưa từng rơi lệ bỗng nhiên nước mắt ràn rụa.

Lên đầu trang