在古代和中世纪的象征学(symbology)里,麒麟(unicorn)是一种非常重要的传说式的动物。麒麟又称独角兽,额上长着一只角,身体像马,脚蹄像鹿,尾像狮尾。这种想像中的野兽可能源出古代希腊的一种野生动物,它的独角具有医治的动能;也可能是印度的犀牛(Indian rhinoceros)的误传,其角有增加潜力的功效。
Trong thuyết tượng trưng thời cổ và trung đại, kì lân là một loài động vật truyền thuyết vô cùng quan trọng. Kì lân còn gọi là tê giác một sừng, trên trán mọc một chiếc sừng, thân mình giống ngựa, móng như móng hươu, đuôi tựa đuôi sư tử. Loài dã thú trong tưởng tượng này có lẽ bắt nguồn từ một loài động vật hoang dã thời Hi Lạp cổ đại, cái sừng duy nhất của nó có khả năng chữa bệnh, cũng có thể đây là một truyền thuyết sai lệch từ loài tê giác Ấn Độ, sừng của nó có công hiệu tăng cường tiềm lực.
在基督教(Christianity)里,麒麟是纯洁和不易腐蚀的(pure and incorruptible)动物,因此它是基督的象征(a symbol of Christ)。
Trong Thiên Chúa giáo, Kì lân là động vật thuần khiết và không dễ bị xâm hại, do đó nó là biểu tượng của Cơ Đốc giáo.
在基督教的肖像画(iconography)里,有不少描写“圣母和麒麟(the virgin and the unicorn)”的故事,它代表圣灵授胎的圣母(the virgin who has conceived by the Holy Spirit)。除了圣母,任何人触摸它必将受到惩罚。据说麒麟非常野性,任何猎人都抓不住它,只有少女使用计谋,靠着她洁白的乳汁的芳香使它陶醉,最终才能将它逮住。
Trong các ảnh chân dung của đạo Cơ Đốc có không ít tranh miêu tả câu chuyện “Đức mẹ và kì lân”, nó đại diện cho Đức mẹ thọ thai thần thánh. Ngoài Đức Mẹ ra, bất kì ai đụng vào nó đều bị trừng phạt. Nghe nói kì lân hết sức ngang ngược, không người thợ săn nào có thể bắt được nó, chỉ có thiếu nữ dùng mưu kế, nhờ vào hương thơm của chất sữa tinh khiết trên người cô ta làm nó say sưa, cuối cùng mới bắt được nó.
麒麟具有一种能识别邪恶的本领,其至能看出钻石的光芒里最微小的瑕疵。它的角可以分开污染的水,找出有毒物质,具有解除毒性的神力(a powerful antidote to poison)。早期的基督教自然哲学家(the early Christian physiologist)对麒麟角的魔力作了如下生动的描写:“Before the other animals come to drink, the snake comes forward and spits its venom into the water. The animals, however, knowing that the water is poisoned, do not dare to drink. They await the unicorn. The unicorn comes, goes right into the lake and makes a cross with its horn. This removes the effect of the poison. Only after the unicorn has drunk do the other animals approach and do likewise”.(在其他动物喝水之前,毒蛇先在水中吐了毒液,其他动物知道水中有毒,不敢喝水。他们等待麒麟。麒麟来后,直接走到湖里,用角在水中划了个十字,这样就解除了水的毒性。只有麒麟喝了水后,其他动物才走近喝水。)”这是对麒麟角的魔力的神秘信仰。
Kì Lân có bản lĩnh nhận biết được tà ác, thậm chí có thể nhận ra những tì vết nhỏ nhất trong ánh sáng của kim cương. Sừng của nó có thể tách được nước nhiễm bẩn, tìm ra chất độc và có sức mạnh giải độc diệu kì. Các nhà triết học tự nhiên của Cơ Đốc giáo thời kì đầu đã miêu tả ma lực của sừng kì lân một cách sinh động như sau: “Trước khi các loài động vật khác uống nước, rắn độc đã phun nọc độc vào trong nước. Các động vật khác biết trong nước có độc nên không dám uống, chúng chờ kì lân đến. Kì lân sau khi đến liền đi thẳng tới hồ nước, lấy sừng vạch một hình chữ thập trong nước, vậy là trừ được độc tính của nước. Chỉ sau lúc kì lân uống nước, các động vật khác mới đến gần để uống.” Đây là tín ngưỡng thần bí về ma lực của sừng kì lân.
在纹章学(heraldry)里,麒麟如同一只有领毛的马,偶蹄、独角,常在盾牌和旗徽上出现。它至今还被用做苏格兰王室的徽章(the emblem of the Scottish Royal Court);它同狮子一起作为支撑物,又是大不列颠盾牌的纹章(the arms of Great Britain)。
Trong nghệ thuật làm hoa văn, kì lân giống một con ngựa có lông ở cổ, guốc chẵn, một sừng, thường xuất hiện ở các hoa văn trên khiên và cờ hiệu. Đến nay nó còn được dùng làm huy chương hoàng gia của Scottland; nó và sư tử cùng làm vật chống đỡ, còn là hoa văn trên khiên của nước Anh.
在汉文化里,麒麟简称“麟”,为“四灵”之一,是人们想像中的一种动物。汉代许慎《说文解字》状其形曰:“麟,仁兽也;麋身,牛尾,一角;麟,牝麒也。”麒麟被看做“仁兽”、“瑞兽”,只有太平盛世才会出现。如史书曾有“唐虞之世,麟凤游于田”、“禹时,麒麟步于庭”等记载。由于麒麟有灵性,六朝时期曾用它作为皇帝墓前的石神兽。由于它是仁义之兽,所以古人又把它作为贤者的代称。汉初萧何曾在长安未央宫建造麒麟阁,以接待四方贤士。杜甫曾写过“今日麒麟阁,何人第一功”的诗句。
Trong văn hóa Hán, kì lân gọi tắt là “Lân”, một trong “tứ linh”, là loài động vật trong tưởng tượng của con người, “Thuyết văn giải từ” của Hứa Thận đời Hán đã tả hình dáng nó thế này: “Lân, nhân thú dã; mê thân, ngưu vĩ; nhất giác; Lân, tẫn kì dã (Lân là loài thú nhân nghĩa, mình nai, đuôi trâu, một sừng; lân, con cái gọi là kỳ).” Kì lân được xem là “Nhân thú”, “thú may mắn”, chỉ xuất hiện vào thời thái bình thịnh vượng. Như trong sử sách từng có những ghi chép: “Thời Đường Ngu, lân phượng du ngoạn ruộng đồng”, “Thời Vũ kì lân đến nhà”. Do kì lân có linh tánh nên người thời Lục Triều từng dùng hình ảnh nó làm tượng đá thú thần trước mộ hoàng đế. Vì nó là loài thú nhân nghĩa nên người thời cổ thường dùng nó làm tên gọi thay những bậc hiền tài. Tiêu Hà đầu thời Hán từng xây kì lân các ở cung Vị Ương tại Trường An để tiếp đãi hiền sĩ bốn phương. Đỗ Phủ cũng từng viết câu thơ: “Kim nhật kì lân các, hà nhân đệ nhất công (Hôm nay ở gác Kỳ Lân, ai người chiếm công đầu)”.
民间常把麒麟作为吉祥物。东晋王嘉《拾遗记》所刻绘的《圣迹图》中,有“麟吐玉书”的情节,描写了孔子降生时,庭中忽然出现一麒麟瑞兽,口中还吐出一部玉书,后来孔子成为“万世师表”。在民间艺术里常绘有儿童坐在麒麟背上,有的还手捧宝书,题作“麒麟送子”,象征幼儿长大必成圣贤有德之人。
Trong dân gian, kì lân thường được xem là loài vật may mắn. Trong “Thánh tích đồ” mà Vương Gia thời Đông Tấn khắc họa trong cuốn “Thập di kí” có những tình tiết “lân thổ ngọc thư” (lân nhả sách ngọc), miêu tả lúc Khổng Tử sinh ra, trong nhà chợt xuất hiện một con thú may mắn là kì lân, miệng còn nhả ra một bộ sách ngọc. Sau này Khổng Tử đã trở thành “Vạn thế sư biểu” (người thầy tiêu biểu của muôn đời). Trong nghệ thuật dân gian thường vẽ một đứa bé cưỡi trên lưng kì lân, có khi trong tay còn cầm một quyển sách ngọc, tựa là “kì lân tống tử”, tượng trưng cho việc đứa trẻ sau này lớn lên tất trở thành bậc thánh hiền tài đức.
麒麟还常被用来比喻有出息的子孙,如称赞人家的孩子为“麒麟儿”或“麟子”、“麟儿”。杜甫《徐卿二子歌》曰:“君不见徐卿二子生奇绝,感应吉梦相追随,孔子释氏亲抱送,并是天上麒麟儿。”
Kì lân còn thường được dùng để ví với con cháu có tiền đồ, ví dụ như khen con người khác là “con kì lân”, “lân tử”, “con lân”. Đỗ Phủ trong bài “Từ khanh nhị tử ca” cũng viết rằng: “Quân bất kiến Từ khanh nhị tử sinh kì tuyệt, cảm ứng cát mộng tương truy tuỳ, Khổng Tử Thích thị thân bao tống, tịnh thị thiên thượng kì lân nhi (Anh chẳng thấy Từ Khanh sinh hai con là bậc kỳ tài, cảm ứng điểm mộng lành mà sinh ra, do Khổng Tử và học Thích đích thân ẵm đến, đều là con kỳ lân trên trời).”
麒麟配对也象征夫妻关系。《红楼梦》第三十一回就写过史湘云与贾宝玉佩带金麒麟一节,隐示着贾宝玉同史湘云最终将有夫妻的缘分。
Đôi kì lân cũng tượng trưng cho quan hệ vợ chồng. “Hồng lâu mộng” hồi 31 cũng có viết về một chi tiết Giả Bảo Ngọc và Sử Tương Vân đeo kì lân vàng, ẩn ý nói cuối cùng Giả Bảo Ngọc và Sử Tương Vân sẽ có duyên vợ chồng.
汉族民间还有跳麒麟舞之习俗,亦称送麒麟、麒麟灯,流行于华东、中南、西南和西北等地。每逢新春佳节或嫁娶喜庆,各地多在广场或逐户以贺喜的形式表演。一般由两人合作,披麟形道具扮麒麟,另有一人领舞,并有锣鼓伴奏。有的则载歌载舞,口唱赞贺与祝福之词,此时,主家要以“红包”相送。
Trong dân gian Hán tộc có tập tục múa lân, còn gọi “tiễn kì lân”, “kì lân đăng” được lưu truyền ở những vùng như Hoa Đông, Trung Nam, Tây Nam và Tây Bắc. Mỗi độ xuân về hay vào dịp chúc mừng cưới hỏi, các nơi đều biểu diễn với hình thức chúc mừng ở quảng trường hay từng nhà. Thông thường do hai người hợp tác, khoác các đạo cụ hình kì lân để diễn kì lân, còn có một người khác sẽ dẫn múa, đồng thời có chiêng trống đệm nhịp. Đôi khi vừa hát vừa múa, miệng hát những lời chúc mừng và chúc phúc. Lúc này, chủ nhà cần phải tiễn bằng “bao lì xì”.
