冬日的黄昏,我和朋友围坐在熊熊的炉火边,气氛恬适,最宜促膝谈心。这位朋友平素沉默寡言,现在却娓娓细述自己的心事。
Hoàng hôn ngày mùa đông, tôi và bạn bè ngồi quây quần bên lò lửa rừng rực, không khí điềm tĩnh và thoải mái, rất hợp để kề gối bên nhau tâm sự. Người bạn này xưa nay trầm lắng ít nói, bây giờ cũng rủ rỉ kể tâm sự của mình.
“我常常感到痛苦,”她说,“我没有力量对别人慷慨一点。要想送人一点儿东西也办不到。”
“Tôi thường hay cảm thấy đau khổ” cô ấy nói, “Tôi không có khả năng để đối đãi khảng khái với người khác một chút. Nếu muốn tặng ai một chút gì cũng làm không được.”
我知道她的情形。她丈夫接连生了几场病,家里债台高筑,还有三个孩子在读书,所以她的手头非常拮据。可是她似乎并不知道,她自己实在是小镇上最肯帮助别人的人。
Tôi biết tình cảnh của cô ấy. Chồng cô ấy bệnh liên tiếp mấy trận, trong nhà nợ nần chồng chất, còn có ba đứa con đang đi học, cho nên kinh tế của cô ấy rất túng thiếu. Nhưng cô ấy gần như không hề biết, bản thân mình quả thực là người chịu sự giúp đỡ của người khác nhiều nhất trong thị trấn nhỏ.
“我觉得,你是最慷慨的人了,”我说,“让我把其中的道理说给你听。
我们首先谈到钱,因为钱所代表的慷慨,是大家所最熟悉的。可是我认为,真正的慷慨,是另外一种表现。
“Tôi cảm thấy cô là người khảng khái nhất rồi,” tôi nói, “để tôi nói cho cô nghe đạo lí trong đó.”
Chúng ta đầu tiên nói đến tiền, vì khảng khái được đại diện bởi tiền, là điều mà mọi người nghe quen thuộc nhất. Nhưng tôi cho rằng khảng khái chân chính là một cách biểu hiện khác.
某年,纽约闹流行性感冒,医生和护士应接不暇。纽约市某俱乐部的若干会员决定助一臂之力。他们都是上了年纪的富人,如果捐出一大笔钱来,实在易如反掌。但是他们没有那样做,却穿上自制服,为医院洗地,替病人洗澡,侍候病人,安慰垂死的病人和死者的遗属。疲劳和传染都不能挫折他们的热心。这才称得上真正的慷慨,因为他们不是出钱,而是献出自己。
Năm nào đó, New York ầm ỉ lan truyền bệnh cúm, bác sĩ và y tá ứng tiếp không xuể, một số hội viên của câu lạc bộ nào đó của thành phố Newyork quyết định giúp sức một tay, họ đều là những người giàu có đã có tuổi, nếu như quyên góp một số tiền lớn thì quả thực là dễ như trở bàn tay. Nhưng họ không làm như thế, lại khoác lên người bộ đồng phục trắng, lau sàn vì bệnh viện, tắm rửa giúp cho bệnh nhân, chăm sóc bệnh nhân, an ủi bệnh nhân sắp chết và làm di chúc cho người chết. Mệt mỏi và bị truyền nhiễm đều không thể cản trở nhiệt tâm của họ. Trên đây mới được gọi là khảng khái chân chính, vì họ không phải chi tiền mà là cống hiến bản thân mình.
一位朋友告诉我,他的太太送他一株木兰作为生日礼物的故事。那一天,他回家比较早,看见邻家的孩子在他的前院挖坑,他觉得很奇怪。
Một người bạn hỏi tôi, chuyện vợ anh ấy tặng anh ấy một cây lan làm quà sinh nhật. Hôm đó, anh ấy về nhà khá sớm, thấy đứa trẻ nhà hàng xóm đào hố trước sân nhà anh ấy, anh ấy cảm thấy rất kỳ lạ.
“那孩子告诉我,他知道我的太太要送我一株木兰。他接着说:“我很穷,但我也想送你一件礼物。就是这个坑。”我心里感动极了!”
“Đứa trẻ đó nói với tôi, nó biết vợ tôi muốn tặng tôi một gốc lan. Nó nói tiếp “Con rất nghèo nhưng con cũng muốn tặng cho chú một món quà. Đó chính là cái hố này.” Trong lòng tôi cảm động biết bao!”
一方慷慨地给,另一方应该欣然接受。受礼而不领情,反而伤感情。有一次,我在路上遇见一位朋友的丈夫,他提着一个漂亮盒子,满面春风地告诉我:“我的太太一直想有一件皮大衣。这两年我省吃俭用,现在终于买来了——我要送给她,庆祝我们结婚十周年纪念。来,你到我家来,看看她高兴的样子。“到家后,他的太太打开盒子一看,却说:“哎,你怎么搞的?你晓得,我们现在多需要一块新地毯……”
Một mặt cho một cách khảng khái, mặt khác nên vui vẻ tiếp nhận. Nhận quà mà không nhận tình, ngược lại làm tổn thương tình cảm. Có một lần tôi gặp chồng của một người bạn trên đường, anh ta đưa một cái hộp rất đẹp, mặt vui phơi phơi nói với tôi: “Vợ tôi luôn muốn có một chiếc áo khoác da, hai năm nay tôi tiết kiệm chi dùng, bây giờ cuối cùng cũng mua được rồi_ Tôi muốn tặng cho cô ấy, chúc mừng kỉ niệm mười năm kết hôn. Nào, anh đến nhà tôi, xem thử dáng vẻ vui mừng của cô ấy.” Sau khi đến nhà, vợ anh ta mở hộp ra nhìn, lại nói: “Ây, anh làm sao thế? Anh biết, chúng ta bây giờ cần nhiều lắm là một tấm thảm trải nền…”
我记得另外一种受礼的态度。一位有钱的太太,她想要的东西都有了。有一天,她无意中谈到需要一样小东西,可是没有空上街。我觉得可以替她效劳。想不到她竟眼泪汪汪地说:“你真好,肯为我跑那么远的路!”我不过花点儿时间,她那样感激涕零,使我觉得反而倒欠了她的情似的。我发现,最好的礼物莫过于自己的时间。礼物没有送礼者自己的成分,便没有意义;任何礼物都不如时间所包含的自我成分多。可是许多人宁愿花钱,而吝啬时间。
Tôi nhớ một kiểu thái độ nhận quà khác. Một bà chủ có tiền, những thứ bà ấy muốn đều có. Có một hôm, trong lúc vô ý bà ta nói đến cần một vật nhỏ nhưng không có trên đường. Tôi cảm thấy có thể bỏ sức giúp bà ấy. Không ngờ bà ấy lại nước mắt lưng tròng nói: “Anh thật tốt, chịu chạy đường xa như thế vì tôi!” Tôi chẳng qua bỏ ra chút thời gian, cái vẻ cảm kích rơi nước mắt của bà ấy khiến tôi cảm thấy ngược lại như mắc nợ tình cảm của bà ấy. Tôi phát hiện, món quà tốt nhất không gì khác là thời gian sống của mình. Món quà không có thành phần của bản thân người tặng thì càng không có ý nghĩa; quà tặng bất kì đều không có nhiều thành phần bản thân mình bao gồm thời gian.Nhưng rất nhiều người thà rằng tốn tiền mà keo kiệt thời gian.
许多做父母的,表面看起来非常慷慨,为孩子花许多钱,买这买那。有时自己省吃俭用,却往往宠坏了子女。明智的父母就知道,在子女身上花钱,不如花时间。
Rất nhiều những người làm cha mẹ, bề ngoài xem ra vô cùng khảng khái, tốn rất nhiều tiền vì con, mua cái này mua cái kia. Có khi tiết kiệm chút thời gian của mình nhưng thường chìu hư con cái. Cha mẹ nào sáng suốt thì biết việc tốn tiền cho con cái không bằng việc bỏ thời gian.
一位企业家问他的邻居:“你想不想知道,我送给儿子的圣诞礼物是什么?”
Một nhà xí nghiệp hỏi người hàng xóm của ông ta: “Anh có muốn biết quà giáng sinh tôi tặng cho con trai tôi là gì không?
他的邻居以为一定是什么值钱的东西,事实大出他的意料,原来只是一张纸,上面写道:“儿子:我每天空一小时给你,星期天两小时,你高兴怎样我们就怎样。爸爸。”
Người hàng xóm của ông ấy cho rằng nhất định là thứ gì có giá trị bằng tiền, sự thật nằm ngoài dự đoán của ông ta, hoá ra chỉ là một tờ giấy, viết trên đó: “Con trai: cha mỗi ngày cho con một tiếng, chủ nhật thì hai tiếng, thế nào cho con vui thì chúng ta làm thế đó. Cha con.”
送礼物不必花太多钱,送时间也不必太多。如果匀不出一个下午去探望朋友,可以打电话向他致意;如果写信太费事,可以寄一张明信片。
Tặng quà không cần phải tốn quá nhiều tiền, thời gian tặng cũng không cần quá nhiều. Nếu như không thể bớt ra một buổi chiều đi thăm bạn, có thể gọi điện thoại thăm hỏi anh ấy; nếu như viết thư quá tốn công sức thì có thể gửi một tấm bưu thiếp.
多数人都有慷慨之心,所幸,表达慷慨的方式也很多。为别人的幸运和成功而庆幸,是一种慷慨;能从别人的观点看事物,容许别人有自己的意见和特色,也是一种慷慨。此外,圆通,避免卤莽的言行;耐心,倾听别人的诉苦;同情,分担别人的悲痛,都是慷慨。
Đa số những người đã có lòng khảng khái, cách vui mừng biểu đạt khảng khái cũng rất nhiều. Chúc mừng vì sự may mắn và thành công của người khác, là một kiểu khảng khái; có thể nhìn sự vật theo quan điểm của người khác, cho phép người khác có sắc thái và ý kiến riêng của mình, cũng là một kiểu khảng khái. Ngoài ra, lời nói và việc làm mềm mỏng, khéo léo tránh lỗ mãng; nhẫn nại lắng nghe người khác kể khổ; đồng tình, chia sẻ nỗi khổ của người khác, đều là khảng khái.
在一切慷慨行为中,最难能可贵的也许是以君子之心度人——不传播恶意的谣言;凡事往好处想,不往坏处想。不久前,这位和我围炉清谈的好友发现某人被造谣中伤,地方上的人都看不起他。她不辞辛劳,追究出谣言的来源,使造谣者不得不公开道歉。
Trong tất cả những hành vi khẳng khái, điều khó có thể quý trọng nhất có lẽ là lấy lòng quân tử đo bụng người_ không ác ý truyền bá tin đồn nhảm; bất kỳ việc gì hãy nghĩ đến chỗ tốt, đừng nghĩ đến chỗ xấu. Trước đây không lâu, người bạn tốt ngồi bên lò lửa cùng tôi tán dóc phát hiện một người nào đó bị tổn thương trong việc đặt điều, người trong vùng đều xem thường cô ta. Cô ấy không từ vất vả khổ nhọc truy cứu nguồn gốc của tin đồn, khiến cho người phao tin không thể không công khai xin lỗi.
“刚才我们所谈的这些慷慨,你都可以媲美,”我告诉她,“你为尽了别人,再不能更慷慨了。”
“Những điều khảng khái mà chúng ta vừa nghe nói, cô đều có thể xếp ngang hàng,” tôi nói với cô ấy, “Cô đã để cho người khác dốc sức, nếu không đã có thể càng khảng khái hơn.”
炉火辉映下,我看见她面露笑容,虽然不能完全相信我的话,却也抑制不住喜悦,好像是得到了出乎意料的安慰。
Dưới sự chiếu sáng của bếp lửa, tôi nhìn thấy mặt cô ấy nở nụ cười, tuy không thể hoàn toàn tin tưởng những điều tôi nói nhưng cũng không kiềm được niềm vui, như là được an ủi nằm ngoài dự liệu.
