如果用今人的眼光来看古代的事,很多都非常匪夷所思,比如写字。古代人写毛笔字时,从来都是竖着从右向左写,和今天的人刚好相反。难道他们不怕右手把已经写好的字给掩盖住,或右手腕、衣袖把未干的墨汁碰糊么?
Nếu dưới góc nhìn của người hiện đại để nhìn những việc của thời xưa, rất nhiều điều đều vô cùng khó hiểu, ví dụ như việc viết chữ. Khi người xưa viết chữ bằng bút lông, họ luôn viết dọc từ phải sang trái, hoàn toàn trái ngược với chúng ta ngày nay. Chẳng lẽ họ không sợ tay phải che mất chữ đã viết, hoặc cổ tay hay tay áo làm lem mực chưa khô sao?
答案是:不怕。因为他们写字时要提腕,甚至要用左手管住右衣袖。可即便如此,还是会造成很大的不方便,但古人却一直如此坚持了千百年,其中有什么非坚持不可的理由吗?
Câu trả lời là: không sợ. Bởi vì khi họ viết chữ phải nhấc cổ tay, thậm chí còn phải dùng tay trái giữ ống tay áo bên phải. Nhưng cho dù như vậy, vẫn gây ra khá nhiều bất tiện, thế nhưng người xưa vẫn kiên trì như vậy suốt hàng nghìn năm. Trong đó có lý do gì buộc phải giữ nguyên như thế không?
有,而且很多。具体说来有如下几个:
Có, thậm chí còn rất nhiều nữa. Cụ thể gồm các điểm sau:
竹简上写字形成的习惯
Thói quen hình thành từ việc viết trên thẻ tre
在造纸术发明以前,古人是在竹木简牍上写字的。竹木简牍呈狭长型,自然得一路向下写,单片写好后再用绳串起来卷成册装订。你可以把每一条竹简想象为一根很长的冰棍棍,把它们穿起来卷上,就是简册。那为何是自右向左呢?因为左手拿简,右手执笔,写完便一根一根的从左向右边推去,并且排好,左手再去拿新简。如此一来,桌面空间便可以得到充分运用,不至于将新简和已写好的竹简弄混淆。
Trước khi có giấy, người xưa viết trên tre và gỗ. Thẻ tre và thẻ gỗ đều dài và hẹp, đương nhiên là phải viết từ trên xuống dưới; sau khi viết xong từng thẻ thì dùng dây xâu lại rồi cuộn thành sách. Bạn có thể hình dung mỗi thẻ tre giống như một chiếc que kem rất dài, xâu chúng lại rồi cuộn lên, chính là một quyển sách bằng thẻ tre. Vậy tại sao lại viết từ phải sang trái? Bởi vì tay trái cầm thẻ tre, tay phải cầm bút, viết xong thì đẩy từng thẻ đã viết từ trái sang phải, sắp xếp ngay ngắn, rồi tay trái lại lấy thẻ mới. Như vậy, không gian trên bàn có thể được tận dụng đầy đủ, không đến mức làm lẫn lộn thẻ mới và thẻ đã viết.
汉字的特点和人的书写习惯
Đặc điểm của chữ Hán và thói quen viết của con người
从汉字的特点和人的生理习惯来看,一个字的笔顺自然是从上至下来、从左到右方便。汉字书写的自上而下,自右而左,也反映了古人的尊卑思想。如果从右往左横写,写左半部时,毛笔势必挡住右半字形,不便于安排结构,影响成字的美观,而每个汉字的末笔都是在中下或右下,写完上一字的末笔紧接着写下一字的起笔,竖式书写比横式书写更便于笔势的连贯。
Xét về đặc điểm của chữ Hán và thói quen sinh lý của con người, thứ tự nét bút tự nhiên của một chữ là từ trên xuống dưới, từ trái sang phải. Cách viết chữ Hán từ trên xuống dưới, từ phải sang trái cũng phản ánh tư tưởng tôn ti của người xưa. Nếu viết ngang từ phải sang trái, khi viết phần bên trái của chữ, bút lông ắt sẽ che mất hình dạng phần bên phải, gây bất tiện cho việc bố cục và ảnh hưởng đến vẻ đẹp của chữ, mà nét cuối của một chữ thường nằm ở phần giữa dưới hoặc phải dưới; viết xong nét cuối của chữ trước liền tiếp tục viết nét đầu của chữ sau, nên viết dọc thuận lợi cho sự liên tục của bút thế hơn viết ngang.
古人以右为尊
Người xưa coi trọng phía bên phải
古代,上为君,为父母;下为臣,为子女;右为大,左为小。不过,在不同朝代,左右尊卑是不定的,周秦汉时期我国就以右为尊。高级职位称右职;崇尚武功称右武;崇尚文治称右文;豪门大族称右族、右姓;皇帝的贵戚称右戚;太学称右学;“左迁”代表贬官;“无出其右”就是没有超过的意思。请大家想象一下自己手里拿了一卷竹简,然后在下面两种方法中选择一种阅读:1. 左手持竹简,右手一点点拉开阅读,看过的部分用右手卷起来;2. 右手持竹简,左手一点点拉开阅读,看过的部分用左手卷起来。阅读的前两步左右手没有什么大区别,但是最后一步(即把读过的竹简卷起来)需要很高的手部灵活性,考虑到人普遍是右撇子,所以会选择右手卷竹简,那么书写就只能从右向左了。
Ngày xưa, phía trên tượng trưng cho vua, cha mẹ; phía dưới tượng trưng cho bề tôi, con cái; bên phải là lớn, bên trái là nhỏ. Tuy nhiên, ở các triều đại khác nhau, thứ tự tôn ti trái phải không cố định; thời Chu–Tần–Hán thì coi phải là tôn quý. Chức quan cao được gọi là “chức hữu”; trọng võ gọi “hữu võ”; trọng văn gọi “hữu văn”; gia tộc quyền thế gọi “hữu tộc”, “hữu tính”; thân thích của hoàng đế gọi là “hữu thích”; Thái học gọi là “hữu học”; “tả thiên” nghĩa là giáng chức; “vô xuất kỳ hữu” nghĩa là không ai vượt qua được. Hãy tưởng tượng bạn cầm một cuộn thẻ tre trong tay, rồi chọn một trong hai cách đọc sau: 1 là Tay trái cầm thẻ tre, tay phải từ từ kéo ra đọc, phần đã đọc dùng tay phải cuộn lại; 2 là Tay phải cầm thẻ tre, tay trái từ từ kéo ra đọc, phần đã đọc dùng tay trái cuộn lại. Hai bước đầu, tay trái và tay phải không có gì khác biệt, nhưng bước cuối (cuộn phần đã đọc lại) đòi hỏi độ linh hoạt cao của bàn tay. Vì đa số mọi người thuận tay phải, nên họ sẽ chọn dùng tay phải cuộn thẻ tre, vậy nên chữ chỉ có thể viết từ phải sang trái.
跟在石头上刻字有关
Có liên quan tới việc khắc chữ trên đá
阿拉伯文、希伯来文都是从右向左书写的,据说这与古代人在石头上刻字有关。对于一般人来说,左手拿钎子,右手拿锤子,刻字的方向自然是从右向左的。
Chữ Ả Rập và chữ Hebrew đều viết từ phải sang trái, người ta nói rằng điều này có liên quan tới việc khắc chữ trên đá thời cổ. Đối với đa số người, tay trái cầm đục, tay phải cầm búa, hướng khắc chữ tự nhiên sẽ là từ phải sang trái.
为了方便
Vì thuận tiện
人的左脑主管语言逻辑,而脑与肢体是交叉对应的,所以多数人右手写字较自在。人类发明高脚家具是后来的事,此前要写个字,必须左手执简,右手执笔。右手写了一竖行,左手放一点,竹简垂下一点,正可以凉干刚写好的字。所以,古人从右向左写字,是为了方便!说到这里,有人会问,你说从上至下,从右至左的书写方式,是为了适应简牍这种书写材料而形成的,那纸张出现以后,人们的书写方式为何不跟着改变?很简单,人们习惯了左行。汉字书写形式的形成年代最迟至西周已成定例,千百年定下来的老规矩,岂是说改就能改的?此外,书写方式决定了阅读方式,就算人们知道从左向右写或许更方便,但打开书眼睛便往右瞟的习惯不是那么容易改变的。因此,历史上,也没有哪位叛逆青年或哪家印刷小工坊会走如此“非主流”路线,他们也怕写印出来的书没人看!新中国成立后,为了遵循国际惯例,汉字的书写顺序正式变为由左至右,竖向书写。1954年起,学生课本正式变为由左至右,由上到下横排印刷。这个习惯也一直沿用至今。
Não trái của con người quản lý ngôn ngữ và tư duy logic, đồng thời điều khiển tay phải, vậy nên đa số mọi người thấy viết bằng tay phải thuận tiện hơn. Việc con người phát minh ra bàn ghế cao là chuyện về sau; trước đó, muốn viết chữ, phải tay trái cầm thẻ tre, tay phải cầm bút. Tay phải viết xong một hàng dọc, tay trái thả xuống một chút, thẻ tre rủ xuống, vừa hay có thể làm khô chữ mới viết. Vì vậy, người xưa viết từ phải sang trái là để thuận tiện! Nói đến đây, có người sẽ hỏi: anh nói rằng cách viết từ trên xuống dưới, từ phải sang trái hình thành do đặc tính của thẻ tre, vậy tại sao sau khi xuất hiện giấy, người ta không thay đổi cách viết? Rất đơn giản, vì con người đã quen với hướng viết đó rồi.Cách viết chữ Hán được định hình muộn nhất là vào thời Tây Chu, đã trở thành quy tắc suốt hàng nghìn năm, đâu thể nói đổi là đổi được? Ngoài ra, cách viết quyết định cách đọc. Cho dù biết viết từ trái sang phải có thể tiện hơn, nhưng thói quen “mở sách là nhìn sang phải” không dễ thay đổi như vậy. Vì thế, trong lịch sử cũng không có thanh niên nổi loạn hay xưởng in nào dám đi theo hướng “phi truyền thống” như vậy, họ cũng sợ sách in ra không ai đọc. Sau khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập, để tuân theo thông lệ quốc tế, thứ tự viết chữ Hán chính thức chuyển thành viết ngang từ trái sang phải. Từ năm 1954, sách giáo khoa chính thức in theo kiểu ngang từ trái sang phải, từ trên xuống dưới. Thói quen này vẫn được giữ đến ngày nay.
Thể Ân (sưu tầm và dịch)
