最早的“纸”是制作丝绵的副产品。古代制作丝绵时,把煮的蚕茧放在竹席上浸泡捶打,一层层丝绵晒干取下以后再把席上残留的丝绵屑弄湿揭下晒干,就成为最初的“纸”。早期的“纸”实际上是又轻又薄的丝絮片,所以古汉字“纸”的左部带有表示“蚕丝”的符号(右部的符号表示读音)。
“Giấy” sơ khai là sản phẩm phụ từ việc sản xuất tơ tằm. Thời xưa, khi làm tơ tằm, đặt những kén tằm đã luộc lên chiếu cói ngâm rồi đập nát, từng lớp tơ tằm khi đã phơi khô gỡ ra, sau đó lại làm ướt và bóc những lớp tơ tằm vụn còn sót lại trên chiếu cói xuống phơi khô, trở thành “giấy” sơ khai nhất. “Giấy” thời kì đầu thực tế là miếng xơ bông vừa mềm vừa mỏng, vì vậy, kí hiệu bộ bên trái chữ “chỉ” (giấy) trong Hán tự cổ để chỉ “tơ tằm” (kí hiệu bộ bên phải chỉ âm đọc)
先把植物纤维浸泡捶烂制成纸浆,再进一步加工成书用纸的方法,相传是蔡伦发明的。蔡伦是汉朝负责监造皇家各种用品的官员。公元105年他把用树皮、乱麻、破布等废纤维制成的纸献给汉和帝,完成了自己的发明。人们叫这种早期的纸为“蔡侯纸”。从那时开始,纸便进入中国人的生活。造纸术是人类文明史上最重要、最伟大的发明之一。东晋的葛洪发明了染纸防蛀的方法,东晋政府又带头用纸,所以造纸的技术和生产的规模都得到飞速发展。
Phương pháp trước tiên ngâm sợi thực vật rồi đập nát ra để chế thành hồ giấy, sau đó lại tiến thêm một bước gia công thành giấy viết tương truyền do chính Thái Luân phát minh. Thái Luân là một viên quan phụ trách giám sát việc chế tạo các loại đồ dùng cho hoàng gia thời Hán. Năm 105 sau Công nguyên, ông đem loại giấy làm từ các sợi phế phẩm của vỏ cây, sợi đay vụn, vải vụn… dâng cho Hán Hòa Đế, hoàn thành phát minh của mình. Người ta gọi loại “giấy” thời kì đầu này là “giấy Thái hầu”. Bắt đầu từ đó, giấy bước vào cuộc sống của người Trung Quốc. Kĩ thuật chế tạo giấy là một trong những phát minh vĩ đại nhất và quan trọng nhất trong lịch sử văn minh của loài người. Cát Hồng thời Đông Tấn đã phát minh ra phương pháp nhuộm giấy chống mọt, nhà Đông Tấn lại đi đầu trong việc sử dụng giấy, vì vậy kĩ thuật làm giấy và quy mô sản xuất giấy đều được phát triển nhanh chóng.
到了唐朝、宋朝,各地造纸取材因地制宜:四川人用麻造纸,福建人用嫩竹造纸,北方人用桑树皮造纸,在南方山区生活的人用葛藤造纸,在南方海边生活的人用苔藓造纸,浙江人用麦秸稻草造纸,江苏人用蚕茧造纸,湖南湖北人用楮树造纸。各地的造纸事业蓬蓬勃勃地发展起来。
Đến thời Đường, Tống, nguyên liệu làm giấy được áp dụng linh hoạt tùy điều kiện từng địa phương: Người Tứ Xuyên dùng đay để làm giấy, người Phúc Kiến dùng tre non, người phương Bắc dùng vỏ cây dâu, những người sống ở vùng núi phía Nam dùng dây sắn dây, người dân sống ven biển phía Nam dùng rêu, người Triết Giang dùng vỏ trấu và rơm, người Giang Tô dùng kén tằm, người Hồ Nam Hồ Bắc dùng cây dướng (dó). Nghề chế tạo giấy ở các nơi đều phát triển vô cùng mạnh mẽ.
安徽泾县等地,古代属于宣州府,那里生长一种特有的树种──青檀树。当地人用青檀树皮为原料,加上当地纯净的山泉,经过一、二十道工序,生产出一种名贵的纸,这种纸大多集中在宣城销售,所以被称做“宣纸”。宣纸洁白、细密、柔软、吃水性能好,不变色,耐老化,早在唐朝就受到书画家们的喜爱。宣纸使得中国的书法和绘画表现出特有的神韵。
Tại những nơi như huyện Kính tỉnh An Huy, thời xưa thuộc phủ Tuyên Châu, nơi đây sinh trưởng một loài cây rất đặc biệt – cây thanh đàn. Người địa phương lấy vỏ cây thanh đàn làm nguyên liệu, thêm vào nguồn nước suối tinh khiết ở đây, trải qua 10 đến 20 công đoạn, sản xuất ra một loại giấy rất nổi tiếng, loại giấy này đa số được tập trung tiêu thụ ở thành Tuyên Châu, do đó được gọi là “giấy Tuyên Châu”. Giấy Tuyên Châu trắng tinh, nhẵn mịn, mềm mại, độ thấm nước tốt, không đổi màu, để được thời gian dài, ngay từ thời Đường đã được các nhà thư họa ưa chuộng. Giấy Tuyên Châu đã giúp cho thư pháp và hội họa Trung Quốc thể hiện được sắc thái sinh động độc đáo.
中国是纸的故乡。早在汉朝,商人们便把中国纸传到西域,又进一步传到阿拉伯。中国的造纸技术先传到朝鲜,隋朝末年传到日本。唐朝,造纸技术传到阿拉伯,阿拉伯建起了造纸工场,这种技术又传入非洲一些国家。10世纪末欧洲人才开始用纤维纸,13世纪末西班牙和意大利才有自己的造纸工场,而这时中国人制造纤维纸已有1000多年的历史了。
Trung Quốc chính là quê hương của giấy. Ngay từ thời Hán, các thương nhân đã mang giấy Trung Quốc sang Tây vực, lại tiến thêm một bước truyền sang Ả Rập. Kĩ thuật chế tạo giấy của Trung Quốc đầu tiên được truyền vào Triều Tiên, cuối thời Tùy truyền sang Nhật Bản. Thời Đường, kĩ thuật làm giấy truyền vào Ả Rập, Ả Rập đã xây dựng các xưởng làm giấy, kĩ thuật này lại được truyền vào một số nước châu Phi. Cuối thế kỉ X, người châu Âu mới bắt đầu dùng giấy làm từ sợi thực vật, cuối thế kỉ XIII, Tây Ban Nha và Ý mới có nhà máy giấy của riêng mình, mà lúc này, việc chế tạo giấy làm từ sợi thực vật của người Trung Quốc đã có lịch sử hơn 1000 năm rồi.
