在基督教的圣经里,苹果(apple)是智慧之树(the Tree of Knowledge)结的果实。据说亚当和夏娃(Adam and Eva)因为冒犯了上帝的禁令偷吃了这种果实而被逐出了伊甸园。因此,苹果就象征诱惑和原罪(temptation and original sin)。
Trong Kinh Thánh của đạo Cơ Đốc, táo là quả do cây trí tuệ kết thành. Chuyện kể rằng Adam và Eva vì phạm lệnh cấm của Thượng Đế trộm ăn loại quả này nên bị trục xuất khỏi vườn địa đàng. Do đó, táo tượng trưng cho sự cám dỗ và nguồn gốc của tội lỗi.
红苹果(red apple)象征爱情和生育(love and fertility),也是女神Venus作为爱情和欲望的标志。它的圆圆的形状代表永生和大地(eternity and earth),它是圣母玛丽亚的标志,但也意味着赎罪(redemption)。
Táo đỏ tượng trưng cho tình yêu và sự sinh sản, cũng là tiêu chí của tình yêu và dục vọng của nữ thần Venus. Hình dáng tròn tròn của quả táo biểu tượng cho sự vĩnh hằng và đất mẹ, nó là tiêu chí của Đức Mẹ Maria, nhưng nó cũng mang nghĩa chuộc tội.
在希腊神话(Greek myth)里,有一节“苹果之争(the Apple of Discord)”的故事。国王珀琉斯(Peleus)和女神西蒂斯(Thetis)结婚,邀请了众神参加婚礼,惟独忘了争吵之神厄里斯(Eris)。厄里斯女神便寻衅把一个金苹果扔在宴席上,并说要送给最美的女神。天后赫拉(Helen)、智慧女神雅典娜(Athena)和爱神阿芙洛狄特(Aphrodite)都争相要这只苹果,最后苹果判给了爱神。苹果之争隐藏着可怕的祸端,导致了特洛伊战争(the Trojan War),播下了不和的种子。
Trong thần thoại Hy Lạp, có câu chuyện “Cuộc chiến quả táo”. Quốc vương Peleus khi kết hôn với nữ thần Thetis đã mời các thần đến tham dự, duy chỉ quên mời thần tranh cãi Eris. Nữ thần Eris bèn khiêu khích bằng cách ném một quả táo bằng vàng lên bàn tiệc và nói rằng muốn tặng cho vị nữ thần đẹp nhất. Thiên hậu Helen, nữ thần trí tuệ Athena và thần tình yêu Aphrodite đều tranh nhau giành lấy quả táo này, cuối cùng quả táo được dành cho thần tình yêu. Cuộc chiến giành quả táo tiềm ẩn mầm tai hoạ đáng sợ, dẫn đến cuộc chiến Trojan, gieo trồng hạt giống bất hòa.
“牛顿和苹果(Newton and the Apple)”是家喻户晓的故事。牛顿看见苹果从树上掉下引起了联想,而发现了万有引力定律。
“Newton và quả táo” là câu chuyện mà mọi người đều biết. Newton nhìn thấy quả táo từ trên cây rơi xuống bèn nảy sinh ra sự liên tưởng và phát hiện ra định luật vạn vật hấp dẫn.
很长时间以来,几乎在所有生产苹果的国家和地区,苹果被认为是神圣和富有魔力的(holy and magical)。不论是过去还是现在,都有很多表示兆头和魔力的例子与苹果联系在一起。如果在圣诞早上,某些地方是在复活节(Easter)的早上,太阳能透过苹果树而发出灿烂的光芒,这是果园主人能获得丰收的吉兆(a sign of a good crop);苹果要是在秋天开花的话,那对主人家里来说是死亡之兆(death omen);如果树枝上还有果子的苹果树又开花,那就更是如此。有句流行的歌词是这样唱的:“A bloom on the tree when the apples are ripe is a sure termination of somebody’s life(苹果成熟果树又开花,死亡必定落到主人家。)”
Từ rất lâu, hầu như tất cả các quốc gia và khu vực sản xuất táo, đều xem táo là vật thiêng liêng và đầy ma lực. Bất kể là xưa hay nay, đều có rất nhiều ví dụ về điềm báo và ma lực gắn liền với quả táo. Nếu vào buổi sáng Lễ Giáng sinh, một số nơi là vào buổi sáng Lễ Phục sinh mà mặt trời có thể xuyên qua những tán cây táo chiếu lên ánh sáng rực rỡ thì nghĩa là chủ vườn táo sẽ nhận được điềm báo tốt là có một mùa bội thu; còn nếu như hoa táo nở vào mùa thu, đối với chủ nhà mà nói thì đó là điềm báo của sự chết chóc; nếu như trên cây táo vẫn còn quả mà lại nở hoa thì càng đúng vậy. Có câu hát của một ca khúc thịnh hành hát rằng: “A bloom on the tree when the apples are ripe is a sure termination of somebody’s life (khi táo chín mà cây táo lại nở hoa thì cái chết chắc chắn sẽ đến với chủ nhà)”.
在西方盛产苹果的国家至今还保留一种苹果狂欢节(Apple-Wessailing)的风俗。这种活动一般在主显节前夕(the Twelfth Night)举行,也有的是在新年的除夕(New Year’s Eve),这是圣诞节日庆祝仪式之一。当天农场上的男男女女,有的持枪,有的带着盘子、锅子和水壶,抬着苹果酿的酒(cider),来到一颗大的苹果树下,为苹果树祝酒,把酒洒在树根上,把浸有酒的的面包夹在树叉里,有时还把较矮的树枝弯下来浸泡在酒桶里。大家向土地三鞠躬,然后以一种背负装满果子的袋子的动作慢慢地站起来。这时人们向树顶鸣枪,敲打着盘子和锅子,大声叫喊,以赶走带来恶运的魔鬼(the demons of ill luck)。随后,围着果树唱歌跳舞。歌词大意是:
Các quốc gia sản xuất táo ở phương Tây đến nay vẫn còn giữ phong tục về một buổi lễ mừng quả táo. Hoạt động này thường tổ chức chủ yếu vào đêm trước Chúa giáng sinh, cũng có nơi tổ chức vào đêm giao thừa, đây là một trong những nghi thức chúc mừng vào ngày Giáng sinh. Vào ngày hôm đó các chàng trai cô gái trên nông trường, người cầm súng, kẻ cầm mâm, nồi và bình nước, gánh theo rượu làm từ táo đến dưới một gốc cây táo to, để chúc rượu cho cây táo, người ta mang rượu rưới lên gốc cây, mang bánh mì đã được ngâm rượu kẹp vào chạc cây, thỉnh thoảng còn kéo những nhánh cây thấp cong xuống ngâm vào trong thùng rượu. Mọi người lạy mặt đất ba cái, sau đó làm động tác vác một bao đầy trái cây từ từ đứng dậy. Lúc này mọi người bắn súng về ngọn cây, gõ mâm nồi, rồi la hét để xua đuổi tà ma mang vận rủi. Sau đó, ca hát nhảy múa xung quanh gốc cây. Lời ca đại ý là:
Hail to thee, old Apple Tree,
Stand fast root,
Bear well top,
Pray God send us a good howling crop.
Every twig, apples big,
Every bough, apples enow,
Hats full, caps full,
Full quarter sacks full,
Holla, boys, holla! Huzzah!
苹果不仅味道鲜美,而且还有强身健体之功。英语中有句谚语是这样说的:“An apple a day keeps the doctor away(一天吃一个苹果,可以不要找医生。)”此外,苹果派(apple pie)已经成为典型的美国人的东西,是美国人最喜爱的食品(a national favorite),因此英语中有这样一种说法:as American as apple pie(如同苹果派对于美国人那样﹝重要﹞)。当然并非每个美国人的正餐都吃苹果派,但是他们在外出就餐或在家请客时都是如此。
Quả táo không chỉ có vị tươi ngon mà còn có chức năng bồi bổ sức khoẻ. Trong tiếng Anh có câu ngạn ngữ như sau: “An apple a day keeps the doctor away (mỗi ngày ăn một quả táo thì không cần phải đến bác sĩ).” Ngoài ra, bánh táo đã trở thành vật điển hình của người Mỹ, là món ăn được yêu thích nhất của người Mỹ, do đó trong tiếng Anh có cách nói như sau: as American as apple pie (“quan trọng” như bánh táo đối với người Mỹ). Đương nhiên không phải bữa ăn chính của bất kì người Mỹ nào cũng ăn bánh táo, nhưng khi họ ra ngoài ăn hoặc khi mời khách đều có món này.
此外,美国最繁华的大都市New York City还享有the Big Apple of the world之誉。
Ngoài ra, thành phố phồn hoa nhất của Mỹ là New York còn được xem là “Quả táo lớn của thế giới”.
在汉语中,苹果之“苹”与平安之“平”谐音,因而苹果象征生活美满,家庭平安;由于其美丽的外形与鲜红的颜色,它还象征少女的美丽;又因其形状与“心”相似,它也象征少女的爱心。
Trong tiếng Hán, chữ “苹” trong từ “苹果” (quả táo) hài âm với chữ “平”, cho nên quả táo tượng trưng cho cuộc sống mỹ mãn, gia đình bình an; do nó có hình dạng đẹp đẽ và màu đỏ tươi nên táo còn tượng trưng cho vẻ đẹp của thiếu nữ; lại do hình dạng của nó giống với hình “trái tim” nên nó cũng tượng trưng cho tình yêu của thiếu nữ.
苹果是中国最受人欢迎的一种水果。每逢新春或其他佳节,人们多在客厅中摆上一大盘苹果,以祝全家上下与来往客人生活甜美,平安吉祥。
Táo là một loại trái cây được Trung Quốc ưa chuộng nhất. Mỗi dịp tết hoặc các lễ khác, mọi người đa phần đều bày một mâm táo trong phòng khách, để chúc cho cả nhà và khách đến chơi có cuộc sống hạnh phúc, bình an và may mắn.
苹果是公认的馈赠亲友之佳品。但因苹果之“苹”又与生病之“病”谐音,故也有人认为看望病人时不宜送苹果。
Táo được công nhận là quà tặng tốt nhất dành tặng bạn bè người thân. Nhưng vì chữ “苹” trong từ “苹果” (quả táo) còn hài âm với chữ “病” (sinh bệnh), do vậy cũng có người cho rằng không nên tặng táo khi đi thăm người bệnh.
北京的中秋时节,正逢苹果等果子上市,是果子之秋,老北京人称之为“果子节”。《京都风俗志》记载,中秋节“前三、五日,通衢大市,搭盖芦棚,内设高案盒筐,满置果品。晚间灯下一望红绿相间,香气袭人,卖果者高声卖鬻,一路不断”。此类果品不仅用于购买品尝,且多用于上供与送礼,因而果品质量及其装璜均须上乘。为此,在苹果成熟前有的果农便用纸剪的“福禄寿”等吉祥图案贴于果子之上,待果子成熟后便将剪纸撕下, 鲜红的苹果上便留有黄绿相间的图案,更显其艳丽动人。专供馈赠的苹果多装于特制的垫有香蒿的小筐内,小筐外佩挂红绿彩条,真是精美绝伦,更衬托出节日之光彩。
Tết Trung thu của Bắc Kinh vào đúng mùa của các loại trái cây như táo, là mùa thu của trái cây, người sinh sống ở Bắc Kinh lâu năm gọi là “mùa trái cây”. Theo “Kinh đô phong tục chí” ghi rằng, dịp Trung thu “trước 3 đến 5 ngày, dọc theo các con đường lớn của thành phố đều được dựng, quầy bên trong bày đầy các hộp, sọt đựng đầy trái cây. Ban đêm nhìn dưới ánh đèn, sắc xanh đỏ xen lẫn vào nhau, mùi thơm sực nức, người bán trái cây rao bán không ngớt.” Loại quả này không chỉ mua để thưởng thức mà còn dùng để cúng tế và biếu tặng, cho nên chất lượng của quả và bao gói đều phải ở mức tốt nhất. Vì vậy, trước khi táo chín có người còn dán chữ “phúc lộc thọ” được cắt bằng giấy lên trên quả táo, sau khi táo chín bèn xé tờ giấy đó ra, trên quả táo chín đỏ sẽ để lại hình màu đỏ vàng xen kẽ lẫn nhau, khiến người ta càng thích thú. Những quả táo chuyên dùng để biếu tặng thường được đựng trong các giỏ nhỏ có lót cây thanh hao, bên ngoài thắt các dây ruy-băng xanh đỏ, trông vô cùng đẹp mắt, càng tôn thêm hào quang cho ngày lễ.
