炊烟的味道 — MÙI KHÓI BẾP

“很喜欢炊烟的味道!”一位萍水相逢的朋友说。她说出了我心底的话。炊烟的味道,就是家的味道。

“Rất thích mùi khói bếp!” một người bạn quen tình cờ nói. Cô ấy đã nói ra lời của đáy lòng tôi. Mùi khói bếp chính là mùi quê nhà.

我爱曲曲弯弯从村落农家升起的炊烟,更爱炊烟的味道。

Tôi yêu làn khói lượn lờ bay lên từ những nếp nhà thôn quê, càng yêu mùi khói bếp.

每次乘车从一个城市到另一个城市,总是会经过很多村庄。我总是会睁大眼睛,很惬意地欣赏村庄。瓦房、村鸡、村狗、牛羊,一张张陌生而又熟悉的村人脸,我都爱看,都有种亲切感。正午前后或黄昏,如果我还没有进入城市,就还有幸看到一缕缕的炊烟,袅袅悠悠地从一个个农家小院升起来。我羡慕这些庄户人,一家人守着一缕香喷喷的炊烟,就是守着幸福。离开一座城市,我总是很激动,因为我又可以靠近一缕缕温暖的、香喷喷的炊烟。每当接近一座城市时,我总是会不断地回头,目光总是不愿离开那远去的炊烟,就好像每次离家时,总不愿放开母亲温暖的手。

Mỗi lần đón xe từ thành phố này sang thành phố khác, xe đều phải chạy qua rất nhiều thôn làng. Cứ mỗi lần như thế tôi luôn cố gắng mở thật to mắt, thoả thích ngắm nhìn phong cảnh làng quê. Nào những ngôi nhà mái ngói, nào gà, nào chó, nào bò, nào dê, nào từng gương mặt vừa lạ vừa quen của người thôn quê, tôi đều thích ngắm nhìn, đều có một cảm giác thân thiết. Vào khoảng giữa trưa hoặc lúc trời chạng vạng tối, nếu vẫn chưa đi vào thành phố, tôi vẫn còn may mắn nhìn thấy những làn khói lượn lờ bay lên từ sân nhà thôn quê. Tôi ngưỡng mộ những người dân quê này, cả gia đình quây quần bên làn khói bếp thơm nồng, cũng chính là họ đang hạnh phúc. Mỗi khi rời khỏi một thành phố, tôi lại cảm thấy vô cùng xúc động, bởi tôi lại sắp được gần gũi với những làn khói bếp thơm nồng, ấm áp. Mỗi khi đến gần một thành phố, tôi lại liên tục ngoảnh đầu nhìn lại, ánh mắt không sao rời được làn khói bếp đang dần xa kia, cũng giống như mỗi lần rời nhà, cứ không muốn rời xa bàn tay ấm áp của mẹ.

十二岁以前,我曾拥有过一缕炊烟。那是从滇中的一个小村庄里升起的炊烟。守住一缕香喷喷温暖暖的炊烟,当然也就守住了一个温暖幸福的家。从十三岁开始,我离开家乡,离开乡村,到城里读书,就离我所熟悉的炊烟越来越远了。

Trước năm 12 tuổi, tôi từng có được một làn khói bếp. Đó là khói bốc ra từ một ngôi làng nhỏ thuộc tỉnh Vân Nam. Giữ được một làn khói bếp ấm nồng, đương nhiên cũng chính là giữ được một gia đình đầm ấm hạnh phúc. Từ năm 13 tuổi, tôi bắt đầu xa quê, xa thôn làng, vào học ở thành phố, cũng từ đó càng ngày tôi càng rời xa làn khói bếp quen thuộc.

我爱吃腊肉。腊肉是庄户人家挂在梁柁上晾出来的。它久经炊烟熏炙,自然有了炊烟的味道。上大学的时候,尽管偌大的食堂里有几十种菜,只有角落里那位大妈常摆的一小盆腊肉最受我的青睐。吃着腊肉,我可以暂时忘记孤独,会想到炊烟,想到家乡的村庄和亲人。

Tôi thích ăn thịt muối khô. Thịt muối khô là loại thịt được làm và hong khô bằng cách treo trên giàn bếp ở mỗi gia đình thôn quê. Do được hun khói lâu ngày, nên tự nhiên nó cũng có mùi khói bếp. Thời gian học đại học, mặc dù trong căn tin lớn có đến mấy chục món ăn, song chỉ có khay thịt muối khô của một bác gái bày ở trong góc là được tôi ưa thích nhất. Khi ăn thịt muối khô, tôi có thể tạm thời quên đi nỗi cô đơn, sẽ nhớ đến khói bếp, nhớ đến làng quê và những người thân quen.

工作后,一个人孤零零生活在这冷冷的城市,我常常会怀念小时候扶着灶头,一边添柴,一边煮腊肉的日子。腊肉香,炊烟也香。炊烟香,我知道这只是我心理上的感觉。那时家里有时烧辣椒秆、烤烟秆,烟常常熏得我眼睛生疼,鼻涕涟涟。

Khi ra công tác, một mình đơn độc sống trong cái thành phố lạnh lẽo này, tôi thường nhớ lại thưở ấu thơ thường hay chụm đầu bên bếp lửa, vừa thêm củi vừa nấu thịt muối khô. Thịt muối thơm, khói bếp cũng thơm. Khói bếp thơm, tôi biết đây chỉ là cảm giác trong lòng tôi. Lúc ấy, có thời gian gia đình đốt thân cây ớt, thân cây thuốc, tôi thường xuyên bị khói bếp hun đến mắt cay xè, nước mũi chảy ròng ròng.

冬季农闲,每天母亲总要去离村几公里外的山里砍柴。背回柴后,母亲还得忙着做饭。放学回家临近村口时,我们就看到自家屋顶上浮起的一缕炊烟,知道母亲正在做着饭,顿时浑身有了一种温暖踏实的感觉。当了老师后,每隔二三十天,我都得回家一趟,否则我就会无心做事。那是因为我离炊烟、离村庄、离家、离母亲太久了。我骑着自行车,急切地赶回村庄,随着村庄和一缕缕炊烟越来越近,我的心情就越来越好。我一踏进家门,母亲就会急急地去拾柴,生火,为我做饭。尽管我一再表示自己吃碗开水泡饭就行了,但她仍旧会急急地到地里去拔蒜苗,因为她知道我爱吃腊肉炒蒜苗。不一会儿,一缕温暖的、喷香的炊烟就会从我家的房顶上升起来。

Vào mùa đông, khi công việc đồng áng rảnh rỗi, mỗi ngày mẹ thường phải vào trong núi cách làng mấy cây số để đốn củi. Sau khi gánh củi về nhà, mẹ còn phải bận bịu với việc bếp núc. Những lúc tan học về đến gần làng, chúng tôi lại nhìn thấy làn khói bếp bốc ra từ mái nhà mình, biết là mẹ đang làm cơm, phút chốc toàn thân tràn ngập một cảm giác ấm áp yên lòng. Sau khi làm giáo viên, cứ mỗi 20 – 30 ngày tôi đều phải về nhà một lần, bằng không sẽ chẳng còn lòng dạ nào để làm việc. Đó là bởi vì tôi đã xa khói bếp, xa thôn làng, xa nhà, xa mẹ quá lâu. Tôi phóng xe đạp về nhà, càng về đến gần làng của mình, gần với làn khói bếp, lòng tôi lại càng cảm thấy dễ chịu. Khi tôi vừa bước vào cổng, mẹ lại vội vàng lấy củi, nổi lửa nấu cơm cho tôi. Mặc dù tôi đã nhiều lần nói với mẹ tôi chỉ cần ăn chén cơm chan nước sôi là được rồi, nhưng lần nào mẹ cũng vội vàng chạy ra vườn nhổ ít tỏi non, vì mẹ biết tôi rất thích ăn thịt muối khô xào với tỏi non. Chẳng mấy chốc, một làn khói bếp ấm áp, thơm nồng bốc lên từ nóc nhà tôi.

也许,在各种清洁、高效能源走入了千家万户的今天,已很少有人对炊烟有什么感情,但我对炊烟的情感依然如故,万分牵挂。没有炊烟,我总有种漂泊无依的感觉。人在故乡袅袅的炊烟里,做个黄梁梦,也美得很。

Có lẽ trong thời đại mà nguồn năng lượng sạch và hiệu suất cao đi vào khắp mọi nhà như ngày nay, ít ai còn tình cảm gì với khói bếp, nhưng tình cảm của tôi đối với khói bếp lại chẳng hề thay đổi, vẫn lưu luyến vô cùng. Không có khói bếp, tôi luôn có cảm giác lang thang không nơi nương tựa. Con người mơ giấc kê vàng trong làn khói bếp nghi ngút của quê hương cũng đẹp biết bao.

Lên đầu trang