文字与书法 — VĂN TỰ VÀ THƯ PHÁP

1.仓颉
Thương Hiệt

东汉许慎《说文解字》说,黄帝的史官仓顿创造了书契-一-刻契文字。仓颉造字是中国汉字起源的重要传说之一。

Trong “Thuyết văn giải tự” của Hứa Thận thời Đông Hán chép rằng, Sử quan Thương Hiệt thời Hoàng Đế đã sáng tạo ra cách khắc chữ. Thương Hiệt tạo ra chữ viết là một trong những truyền thuyết quan trọng về khởi nguồn của chữ Hán ở Trung Quốc.

2.六书
Lục thư

六书是指汉字形体构造的六种方法,即象形、指事、会意、形声、转注、假借。其中象形是基本原则,而汉字以形声字为最多。

Lục thư là 6 phương pháp cấu tạo hình thể chữ Hán, tức: tượng hình, chỉ sự, hội ý, hình thanh, chuyển chú và giả tá. Trong đó tượng hình là nguyên tắc cơ bản, chữ hình thanh trong chữ Hán chiếm số lượng nhiều nhất.

3.永字八法
Tám nét của chữ “Vĩnh”

“永”字具有汉字的八种基本笔画:点、横、竖、撇、捺、折、钩、提。

Chữ “Vĩnh” có tám nét chữ cơ bản trong chữ Hán: chấm, ngang, sổ, phẩy, mác, gãy, móc, hất.

4.甲骨文
Giáp cốt văn

古代刻在龟甲和兽骨上的文字叫甲骨文。现在的汉字就是从甲骨文演变过来的。

Thời cổ đại, văn tự được khắc trên mai rùa, xương thú được gọi là Giáp cốt văn. Chữ Hán hiện đại chính là diễn tiến từ Giáp cốt văn.

5.阳文—阴文
Dương văn,Âm văn

刻在器物上的文字,笔画凸起的叫阳文,笔画凹下的叫阴文。鲁迅《药》:“两块肩胛骨高高凸出,印成个阳文的“八字”。

Văn tự khắc trên đồ vật, nét chữ lồi (nổi) lên gọi là Dương văn, những nét được khắc lõm vào trong gọi là Âm văn. Trong bài “Thuốc” của Lỗ Tấn có câu: “Hai mảnh xương vai nhô lên rất cao, tạo thành một chữ “Bát” (số 8) trong Dương văn”.

6.李斯
Lý Tư

李斯是秦始皇的宰相。秦统一后,他进行了统一全国文字的工作,以大篆为依据,创立了小篆体。李斯的书法整齐端庄,柔中寓刚,简捷明快,气韵生动。其结构上的平衡对称又给后来的隶书和楷书的结构以重要启示,故有“作楷隶之祖”之说。李斯是秦代书法艺术成就的代表者,其主要作品是秦刻石,相传《泰山刻石》、《琅琊刻石》等出自李斯之手笔。

Lý Tư là Thừa tướng của Tần Thủy Hoàng. Sau khi nhà Tần thống nhất Trung Quốc, ông đã tiến hành việc thống nhất văn tự cả nước, dựa vào Đại Triện, ông đã sáng lập ra thể Tiểu Triện. Thư pháp của Lý Tư ngay ngắn chỉnh tề, trong nhu ẩn cương, gọn gàng thanh thoát, khí vận sinh động. Sự hài hòa trong kết cấu thư pháp của ông đã cung cấp cho kết cấu Lệ thư và Khải thư đời sau những gợi mở quan trọng, nên được người đời khen tặng danh hiệu “ Tác Khải – Lệ chi tổ” (Ông tổ của kết cấu thư pháp Khải – Lệ). Lý Tư là đại biểu cho thành tựu nghệ thuật thư pháp thời Tần, những tác phẩm chủ yếu thời kì này là những bản khắc trên đá ( Tần khắc thạch: bản khắc trên đá thời Tần), tương truyền có những bản như “Thái Sơn khắc thạch”(bản khắc trên đá ở núi Thái Sơn), “Lang Nha khắc thạch” (bản khắc trên đá ở Lang Nha), đều xuất phát từ ngòi bút của Lý Tư.

7.王羲之
Vương Hy Chi

王羲之,东晋人,他上承汉魏间雄奇伟丽的书法传统,博采众长,独创一家。他对篆、隶、楷、草、行各种书体都有很高的造诣,而主要成就表现在楷书、行草上。楷书首推《乐毅论》。草书”飘若浮云,矫若惊龙”,以《十七帖》著名。行书以《兰亭序》最负盛名,这也是他对后世影响最大的作品,被誉为“天下第一行书”。王羲之被后人推为“书圣”。

Vương Hy Chi, người thời Đông Hán, ông đã được thừa hưởng truyền thống thư pháp vĩ đại giữa hai thời Hán- Ngụy, hấp thụ tinh túy của nhiều trường phái, độc lập sáng tạo ra trường phái riêng. Đối với các thể thư pháp Triện, Lệ, Khải, Thảo, Hành ông đều đạt đến trình độ cao, thành tựu chủ yếu thể hiện ở các thể Khải thư, Hành thảo. Tác phẩm Khải thư đầu tiên phải kể đến là “Nhạc Nghị luận”. Thảo thư của ông được mệnh danh là “phiêu nhược phù vân, kiểu nhược kinh long” (mềm mại tựa mây trôi, rắn rỏi như rồng cuốn), và tác phẩm nổi tiếng “Thập thất thiệp”. Tác phẩm nổi tiếng nhất về Hành thư phải kể đến “Lan Đình tự”. Đây cũng chính là tác phẩm có sức ảnh hưởng lớn nhất của ông đối với hậu thế, đã vinh dự được gọi là “Thiên hạ đệ nhất Hành thư” (tác phẩm Hành thư bậc nhất trong thiên hạ). Vương Hi Chi được hậu thế suy tôn là “Thư thánh”.

8.张旭
Trương Húc

张旭是唐代著名书法家,其狂草笔画连绵飞舞,刚柔变化强烈,气势激荡磅礴,有惊人的表现力。其草书与李白诗歌、裴曼剑舞在当时并称三绝。杜甫《饮中八仙歌》描写他:“张旭三杯草圣传,脱帽露顶王公前,挥毫落纸如云烟。”

Trương Húc là nhà thư pháp nổi tiếng đời Đường, những nét thảo bút của ông múa lượn, cương nhu biến hóa mạnh mẽ, khí thế cuồn cuộn, sức biểu hiện kinh người. Thảo thư của ông, thơ ca của Lý Bạch và kiếm thuật của Bùi Mân được người đương thời gọi chung là “Tam tuyệt”. Trong bài “Ẩm trung bát tiên ca” của Đỗ Phủ đã tả về ông như sau: “Trương Húc tam bôi thảo thánh truyền, thoát mão lộ đỉnh. Vương công tiền, huy mao lạc chỉ như vân yên.” (Trương Húc sau khi uống ba ly vung những nét thảo bút như thánh truyền, khi cởi bỏ nón mũ thì lộ những tuyệt đỉnh của Vương Hi Chi ngày trước, tay múa bút như mây như khói.)

9.颜真卿
Nhan Chân Khanh

颜真卿(公元709-785年),字清臣,京兆万年(今陕西西安)人。开元进士。历宫至吏部尚书、太子太师,世称颜鲁公。曾参与平定安禄山叛乱。德宗时,李希烈叛乱,他被派往劝谕,为希烈缝死。传说他死后十几年,其仆人曾在洛阳同德寺见他“衣长白衫,张盖,在佛殿上坐。故时人皆称鲁公尸解得道焉。”《梅花岭记》:“神仙诡诞之说,谓颜太师以兵解。”“以兵解”意思是因被杀而成仙。

Nhan Chân Khanh (709 -785), tự Thanh Thần, người Vạn Niên – Kinh Triệu( nay thuộc thành phố Tây An tỉnh Thiểm Tây). Đỗ Tiến sĩ niên hiệu Khai Nguyên. Làm quan đến chức Sử bộ thượng thư, Thái tử thái sư, được người đời gọi là Nhan Lỗ Công. Nhan Chân Khanh đã từng tham gia bình định phản loạn An Lộc Sơn. Thời Đức Tông, Lý Hi Liệt làm phản, ông được phái đến để khuyến dụ, bị Hi Liệt treo cổ chết. Tương truyền mười mấy năm sau khi chết, nô bộc của ông ở chùa Đồng Đức – Lạc Dương đã nhìn thấy ông “y trường bạch sam, trương cái, tại Phật điện thượng toại. Cố thời nhân giai xưng Lỗ Công thi giải đắc đạo yên.” (Mặc áo dài trắng, che lọng, ngồi trên phật điện. Vì vậy người đương thời đều gọi thi thể của Lỗ Công đã được giải thoát và đắc đạo). Trong bài “Hoa mai lĩnh kí” có câu: “Thần tiên qủy quái đản chi thuyết, vị Nhan Thái sư dĩ binh giải” (Người ta gọi thần tiên qủy quái, gọi Nhan Thái sư là vì binh nên được giải thoát). “Dĩ binh giải” ý nói vì bị giết mà thành tiên.

颜真卿是唐代著名书法家,最擅楷书和行书。其书法雄强茂密,浑厚刚劲,既有时代风貌又有个性特点,最能代表唐代书法特点。他的楷书-向有“蚕头燕尾”之誉,即横竖笔道的起端圆润如“蚕头”,撩笔时先着力顿挫,再轻挑出尖,使笔之末端略成分叉似”燕尾”。用墨横轻竖童,字体结体宽绰,端庄平稳,表现出雍容大度、开阔雄壮的气概。颜书在魏晋书法之后开辟了一个新的艺术局面,形成了自己独特的艺术风格,对后世产生了深远的影响。

Nhan Chân Khanh là nhà thư pháp nổi tiếng đời Đường, có sở trường đặc biệt về Khải thư và Hành thư. Thư pháp của ông hùng tráng và… …, mộc mạc nhưng mạnh mẽ, vừa mang phong cách của thời đại, vừa mang đặc điểm của cá tính, là đại biểu ưu tú nhất cho đặc điểm thư pháp đời Đường. Những nét Khải thư của ông được ngợi khen là “tàm đầu yến vĩ” (đầu tằm đuôi én), tức nét khởi đầu đường đi của bút bao giờ cũng đầy như “đầu con tằm”, khi kéo bút lúc đầu thì chậm rãi, sau đó nhẹ nhàng đá lên tạo thành đầu nhọn, khiến cho những sợi lông của đuôi bút uốn cong tựa như “đuôi én”. Dùng … …, chữ khi kết thể thì rộng mở, ngay ngắn chỉnh tề, hiện rõ phong cách ung dung đại độ, rộng rãi hùng tráng. Thư pháp Nhan Chân Khanh đã mỡ ra một cục diện nghệ thuật mới cho thư pháp đời Ngụy Tấn sau này, đã hình thành nên một phong cách nghệ thuật riêng biệt cho mình, có ảnh hưởng sau rộng đến đời sau.

10.文房四宝
Văn phòng tứ bảo

指书房中常备的4种东西:笔、墨、纸、砚。而“四宝”之中,又以湖笔(浙江湖州今吴兴制造的毛笔)、徽墨(安徽徽州今数县出产的墨)、宣纸(安徽宣城、泾县出产的一种高级纸张)、端砚(广东高要县端溪地方时石头制成的砚台)为最上品。

Chỉ 4 loại thường dùng trong văn phòng: bút, mực, giấy, nghiên. Trong “Tứ bảo”, lại lấy Hồ bút (bút được chế tạo ở Ngô Ninh thuộc Hồ Châu – Chiết Giang ngày nay), Huy mặc (mực được chế tạo ở huyện Hấp thuộc Huy Châu – An Huy ngày nay), Tuyên chỉ (một loại giấy cao cấp được làm ở huyện Kinh, Tuyên Thành – An Huy), Đoan nghiên (nghiên được làm từ đá ở Đoan Khê, huyện Cao Yếu – Quảng Đông) là những sản phẩm cao cấp nhất.

毛笔又被称为寸管。《与妻书》:“当时余心之悲,盖不能以寸管形容之。”

Bút lông còn được gọi là “Thốn quản”. Trong “Dữ thê thư” có câu: “Đương thời dư tâm chi bi, cái bất năng dĩ thốn quản hình dung chi.” (Nỗi buồn lớn nhất của đời ta lúc bấy giờ là không thể dùng bút lông để vẽ dung nhan của nàng).

Lên đầu trang