Thừa Đức và Ung Chính đại đế

承德与雍正大帝 — THỪA ĐỨC VÀ UNG CHÍNH ĐẠI ĐẾ

河北省的承德避暑山庄是世界上现存规模最大的皇家园林,承德市也因避暑山庄而闻名。避暑山庄是康熙取的一个雅称,避暑山庄的正式名称是“热河行宫”,在清代它是仅次于北京的第二政治中心。而“承德”这个地名的由来与康熙大帝、雍正大帝父子俩有关,在历史上,雍正是以承其父亲康熙之德,也就是承文化专制之德而著称的。

Sơn trang nghỉ mát Thừa Đức tỉnh Hà Bắc là vườn cảnh hoàng gia có quy mô lớn nhất còn tồn tại đến ngày nay trên thế giới, thành phố Thừa Đức cũng nhờ có “Sơn trang nghỉ mát” mà trở nên nổi tiếng. “Sơn trang nghỉ mát” là một tên gọi tao nhã do Khang Hy đặt, tên chính thức của “Sơn trang nghỉ mát” là “Hành Cung Nhiệt Hà”. Vào thời Thanh đây là trung tâm chính trị đứng thứ hai sau Bắc Kinh. Mà nguồn gốc của địa danh “Thừa Đức” này có liên quan đến hai cha con Khang Hy đại đế và Ung Chính đại đế. Về lịch sử, Ung Chính kế thừa đức của người cha Khang Hy, cũng chính là kế thừa đức chuyên chế văn hóa mà có tên gọi này.

“承德”这个地名是在雍正十一年(1733年),雍正为纪念其父亲康熙而改立的。《嘉庆重修一统志》卷四十二记载:“康熙四十二年,肇建避暑山庄于热河,为每岁巡幸驻跸之所。雍正元年,设热河厅,十一年,改设承德州。”因此后来热河行宫也叫“承德离宫”。那么雍正为什么要选择在1733年将热河厅改为承德州呢?

Địa danh “Thừa Đức” này do Ung Chính sửa lại để tưởng nhớ vua cha Khang Hy được lập vào năm Ung Chính thứ 11 (năm 1733). Quyển thứ 42 “Gia Khánh trùng tu nhất thống chí” chép: “Khang Hy tứ thập nhị niên, triệu kiến tị thử sơn trang ư Nhiệt Hà, vi mỗi tuế tuần hạnh trú tất chi sở. Ung Chính nguyên niên, thiết Nhiệt Hà sảnh, thập nhất niên, cải thiết Thừa Đức châu.” (Năm thứ 42 Khang Hy, xây dựng ‘sơn trang nghỉ mát’ ở Nhiệt Hà, là nơi trú chân của vua mỗi năm tuần du. Năm đầu niên hiệu Ung Chính, xây dựng dinh thự Nhiệt Hà, năm thứ 11, đổi tên thành châu Thừa Đức. Vì vậy về sau hành cung Nhiệt Hà còn gọi là Ly Cung Thừa Đức. Vậy tại sao Ung Chính lại chọn năm 1733 để đổi tên dinh thự Nhiệt Hà thành châu Thừa Đức?

表面上看,雍正即位以来,一直记着父皇拒绝做七十大寿的事。《清史稿‧圣祖本纪》记载:“群臣请上万寿节尊号,上不许。”到了康熙在位的最后一年,即康熙六十一年(1722年),康熙帝正好六十九岁,当时大臣们都按照汉族的风俗准备给康熙做七十大寿。满族入关后,已全盘接受汉文化,汉族的民俗是在寿者年龄整数的前一年进行祝寿,民间谓之“做九”,即做七十大寿是在寿者的六十九岁时进行。但生性俭朴、不事浮华的康熙拒绝群臣给他做七十大寿的请求。没过多久,康熙就去世了。从1722年到1733年,过去了11年,如果康熙还活着,就该给他过八十寿辰了。于是雍正就把康熙一生中最后一年曾巡幸过的热河改为“承德”,表示承其德泽,不忘祖业。

Bề ngoài thì từ lúc Ung Chính lên ngôi, luôn ghi nhớ chuyện phụ hoàng từ chối làm lễ đại thọ 70 tuổi. Trong “Thánh Tổ bản kỷ – Thanh sử cảo” có chép: “Quần thần thỉnh thượng vạn thọ tiết tôn hiệu, thượng bất hứa” (các quan xin hoàng thượng làm lễ đại thọ, hoàng thượng không đồng ý). Đến năm cuối cùng Khang Hy tại vị, tức năm Khang Hy 61 (năm 1722), vua Khang Hy vừa tròn 69 tuổi, lúc đó các đại thần đều chiếu theo phong tục của dân tộc Hán chuẩn bị lễ đại thọ 70 tuổi cho Khang Hy. Sau khi tộc Mãn vào quan ải, đã tiếp thu một cách toàn diện văn hóa Hán, theo phong tục của Hán tộc thì lễ chúc thọ được tiến hành trước một năm tròn tuổi của người được chúc thọ. Dân gian gọi đây là “tố cửu” tức lễ đại thọ 70 tuổi được tiến hành vào năm 69 tuổi. Nhưng Khang Hy bình sinh vốn giản dị tiết kiệm, không thích xa hoa đã cự tuyệt thỉnh cầu làm lễ đại thọ 70 tuổi cho ông của quần thần. Không lâu sau, Khang Hy qua đời. Từ năm 1722 đến năm 1733, sau 11 năm, nếu Khang Hy còn sống, sẽ làm lễ “thọ thần” 80 tuổi cho ông. Thế là Ung Chính bèn đổi Nhiệt Hà nơi vua Khang Hy tuần du vào năm cuối cùng trong đời ông thành “Thừa Đức”, để bày tỏ sự kế thừa đức độ, không quên tổ nghiệp.

实际上,从自然地名的“热河”到人文地名的“承德”,正是雍正继承康熙文化专制传统的集中体现,也是雍正在思想控制上远超其父的地方。“热河”是一个自然地名,热河的得名是由于避暑山庄的温泉。《钦定热河志》序中云:“山庄内本有温泉,出而汇武列之水,俗遂有‘热河’之称。”而“承德”一词出自五经中的《尚书‧周官》:“惟周王抚万邦,巡侯甸,……六服群辟,罔不承德。”这表示雍正欲效法周王朝,拥有对境内绝对的控制权。而且雍正比康熙更好大喜功,他还要百姓在他的统治时期承受他的德泽。

Trên thực tế, từ địa danh tự nhiên “Nhiệt Hà” đến địa danh nhân văn “Thừa Đức” chính là sự thể hiện tập trung việc Ung Chính kế thừa truyền thống văn hoá chuyên chế từ Khang Hy, cũng là điểm mà hoàng đế Ung Chính vượt xa cha mình về mặt khống chế tư tưởng. “Nhiệt Hà” là một địa danh tự nhiên, tên gọi Nhiệt Hà bắt nguồn từ suối nước nóng trong ‘Sơn trang nghỉ mát’. Trong lời tựa của cuốn “Khâm Định Nhiệt Hà chí” có chép: “Sơn trang nội bản hữu ôn tuyền, xuất nhi hối vũ liệt chi thủy, tục toại hữu ‘Nhiệt Hà’ chi xưng” (Trong sơn trang vốn có suối nước nóng, nước phun ra rất mạnh, tục gọi là ‘Nhiệt Hà’). Còn từ “Thừa Đức” xuất phát từ “Chu quan _ Thượng thư” trong Ngũ kinh ở câu: “Duy Chu vương phủ vạn bang, tuần hầu điện … … lục phục quần tịch, võng bất thừa đức” (Chỉ có thiên tử nhà Chu vỗ về vạn bang, tuần xét các vùng đất, … … sáu nước tuân phục, không có gì không kế thừa đức). Việc này thể hiện Ung Chính muốn học theo vương pháp của triều Chu, có quyền thống trị tuyệt đối đối với quốc gia. Hơn nữa Ung Chính hám công trạng hơn Khang Hy, ông còn muốn muôn dân phải nhận ơn trạch của ông trong thời kỳ thống trị của mình.

明清时,民族矛盾比较父锐,所以在康熙、雍正年间,汉人的“反清复明”思想十分活跃。因此康熙皇帝执政期间,采用以其人之道还治其人之身的策略,即利用儒家的三纲五常反过来控制汉人。康熙九年,颁布“圣谕十六条”,命令在全国宣讲,强行灌输。康熙规定朱熹注的四书五经为科举考试的必备内容。清代的文字狱也是从康熙开始的,而雍正则全盘继承了康熙的思想控制政策。如《清世宗实录》卷一中雍正说:“皇考(指康熙)临御以来,良法美政,万世昭垂,朕当永遵成宪,不敢稍有更张。”雍正将其父的“圣谕十六条”进行阐释,扩充成《圣谕广训》也在全国宣讲,而且是年年讲,月月讲,每月还要讲两次。在文字狱上,雍正的处理更是离奇,曾亲自编撰《大义觉迷录》,对老百姓进行思想清洗,对那些所谓的思想犯,不管生者死者都进行严厉的打击。从“承德”这一地名,我们看到的是历史的投影。

Thời Minh Thanh, mâu thuẫn dân tộc khá gay gắt, vì vậy vào thời Khang Hy, Ung Chính, tư tưởng “phản Thanh phục Minh”của người Hán rất sôi nổi. Do đó thời gian hoàng đế Khang Hy chấp chính, đã áp dụng sách lược “dĩ kỳ nhân chi đạo hoàn trị kỳ nhân chi thân”, tức lợi dụng “Tam cương Ngũ thường” để khống chế ngược lại người Hán. Năm thứ chín Khang Hy, ban bố “Mười sáu điều thánh dụ”, ra lệnh giảng dạy khắp cả nước, ép phải thực hiện do Khang Hy quy định. Bộ “Tứ thư Ngũ kinh” do Chu Hy chú là nội dung bắt buộc trong thi cử. “Văn tự ngục” (Án văn chương: giai cấp thống trị phong kiến cố ý tìm ra những câu văn câu thơ có thể suy diễn ra được ý chống đối, mưu phản nhà vua, triều đình để trị tội tác giả, bắt giam họ vào ngục) đời Thanh cũng bắt đầu từ thời Khang Hy, mà Ung Chính thì kế thừa một cách toàn diện chính sách tư tưởng khống chế của Khang Hy. Như Ung Chính đã nói trong quyển 1 của “Thanh thế tông thực lục” rằng: “Hoàng Khảo (chỉ Khang Hy) giám ngự dĩ lai, lương pháp mĩ chính, vạn thế chiêu thùy, trẫm đương vĩnh tôn thành hiến, bất cảm sảo hữu cánh trương” (Từ ngày Khang Hy giám ngự đến nay, pháp luật và chính trị đều tốt đẹp, chiếu rọi muôn đời, trẫm đương nhiên sẽ vĩnh viễn tuân theo hiến pháp, không dám khoe khoang gì thêm). Ung Chính tiến hành giải thích “Mười sáu điều thánh dụ” của cha mình, mở rộng và bổ sung thành “Thánh dụ quảng huấn”, cũng truyền dạy khắp cả nước, hơn nữa còn giảng dạy hàng năm, hàng tháng, mỗi tháng giảng dạy hai lần. Về “văn tự ngục”, cách xử lí của Ung Chính càng đặc biệt hơn, ông đã từng đích thân biên soạn cuốn “Đại nghĩa giác mê lục”, để tẩy rửa tư tưởng của nhân dân, đối với những tư tưởng nào xem là phạm pháp, bất kể là người chết hay còn sống đều tiến hành đả kích một cách gay gắt. Từ địa danh “Thừa Đức” này, chúng ta đã nhìn thấy được bóng dáng của lịch sử.

Lên đầu trang