病毒,一个让人不寒而栗的名字,总是与疾病和死亡紧密联系在一起。天花、鼠疫、埃博拉、艾滋病、疯牛病等等骇人听闻的病症都是因为某种病毒人侵的结果。其实,病毒也有可爱的一面,它在很多方面有独特的价值。地球上的病毒绝大多数能够与人类和平共处、相安无事,有些自始至终就是我们的好朋友,为人类做出了许多贡献。可以毫不夸张地说:如果没有病毒,世界将因之变色!
Vi rút, một cái tên khiến cho mọi người không lạnh mà run, luôn có mối quan hệ mật thiết với bệnh tật và chết chóc. Những bệnh như: đậu mùa, bệnh dịch hạch, bệnh Ebôla, bệnh Aids, bệnh bò điên,… nghe rợn cả người đều là do hậu quả của một loại vi rút nào đó xâm nhập vào. Thực ra, vi rút cũng có một mặt đáng yêu, nó có giá trị riêng đặc biệt trong rất nhiều phương diện. Tuyệt đại đa số các vi rút trên trái đất có thể chung sống hòa bình, bình an vô sự với loài người, có một số từ đầu đến cuối chính là người bạn tốt của chúng ta, cống hiến rất nhiều cho loài người. Có thể nói một cách không chút khoa trương rằng: Nếu không có vi rút, thế giới sẽ vì thế mà đổi màu!
◆ 如果没有病毒,生物不会如此进化
Nếu không có vi rút, sinh vật sẽ không tiến hóa như vậy
过去,我们把人体内的病毒都视为致病病毒,其实,这是一种片面的看法。实际上,在人体内的所有病毒中,致病病毒只占少数,而且它们大多只在人体感染的这段极短的时间内生存,在患者被治愈或死亡后,这些病毒也就随之死亡或“转移阵地”了。那些长时间待在人体内的病毒大多数对人体无害,并不会引起症状,而且还会对宿主产生一些有益的作用。例如,一种内源性逆转录病毒(ERV),在进化过程中就与哺乳动物的细胞形成了非常亲密的关系,并成为高级哺乳动物DNA的组成部分。
Trước đây, chúng ta đều coi những vi rút trong cơ thể con người là vi rút gây nên bệnh tật, thực ra, đây là một cách nhìn phiến diện. Trên thực tế, trong tất cả các vi rút trong cơ thể con người thì vi rút gây bệnh chỉ chiếm số ít, hơn nữa, đa số chúng chỉ sinh tồn trong khoảng thời gian cực kỳ ngắn mà cơ thể người bị lây nhiễm bệnh, sau khi người bệnh được điều trị khỏi hoặc là bị chết theo, những vi rút này cũng sẽ chết đi hoặc “chuyển dời trận địa”. Những vi rút ở một khoảng thời gian dài trong cơ thể người, đa phần là không có hại, đồng thời sẽ không gây ra bệnh tật, hơn nữa còn sẽ sinh ra một số tác dụng có ích đối với vật chủ. Ví dụ: một loài vi rút rêtrô nội sinh (ERV), trong quá trình tiến hóa sẽ hình thành mối quan hệ vô cùng mật thiết với tế bào của động vật có vú, và trở thành bộ phận cấu tạo nên DNA của động vật có vú cấp cao.
在生物进化过程中,人和脊椎动物直接从病毒那里获得了一百多种基因,这是病毒侵入人体和高级哺乳动物细胞内的结果。人类自身体内复制DNA的酶系统就有病毒的功劳。众所周知,人体和生物体都是排他的系统,但是,母亲体内的免疫系统为什么不排斥从受精卵开始就存在于子宫内的胎儿呢?人们对此提出了很多假说,其中之一就是有某种制约因素在起作用。现在研究证实了ERV能够通过调节胎盘的功能来阻止母亲的免疫系统排斥胎儿,保证胎盘的形成。因此研究人员称这样的病毒是母亲的小帮手,没有它们,就没有人类和高级哺乳动物的今天。
Trong quá trình tiến hóa của sinh vật, con người và động vật có xương sống thu được hơn 100 loại gen trực tiếp từ vi rút, đây là kết quả của việc vi rút xâm nhập vào trong cơ thể con người và tế bào động vật có vú cấp cao. Hệ thống enzime tái tạo DNA trong cơ thể con người là công lao của vi rút. Ai cũng biết rằng, cơ thể con người và cơ thể sinh vật đều là hệ thống loại trừ, nhưng hệ thống miễn dịch của cơ thể người mẹ tại sao không loại trừ thai nhi ngay từ trong tử cung ngay khi trứng bắt đầu thụ tinh? Mọi người đã nêu ra rất nhiều giả thuyết về điều này, một trong số đó chính là có một nhân tố hạn chế nào đó đã có tác dụng. Hiện nay nghiên cứu chứng thực ERV có thể thông qua chức năng điều tiết cuống nhau để ngăn chặn hệ thống miễn dịch của người mẹ loại trừ bào thai, đảm bảo sự hình thành nên cuống nhau. Do vậy, nhân viên nghiên cứu gọi loại vi rút như thế là tiểu trợ thủ của người mẹ, không có chúng thì sẽ không cóngày hôm nay của nhân loại và loài động vật có vú cấp cao.
◆ 如果没有病毒,疾病就会更加猖狂
Nếu không có vi rút, bệnh tật sẽ hoành hành mạnh mẽ hơn
有一些对人体无害的病毒还可以成为“小医生”,能帮助消除有害病毒。美国科学家最近尝试用一种经过基因改造的感冒病毒治疗老鼠的脑部肿瘤,取得良好疗效。这种引发普通感冒的腺病毒能够侵入并杀死老鼠脑中的肿瘤细胞,但并不影响老鼠体内其他健康细胞的正常功能。它能使患恶性脑肿瘤的老鼠多活一百二十多天,这一病毒疗法对60%的实验鼠有效。主持这一实验的科学家说,这一疗法为那些不宜接受手术的脑肿瘤患者提供了希望。
Có một số vi rút không có hại cho cơ thể con người có thể trở thành “bác sĩ nhỏ”, có thể giúp cho việc tiêu diệt những vi rút có hại. Gần đây, các nhà khoa học người Mỹ đã thử dùng một loài vi rút cảm cúm, đã qua cải tạo gen để điều trị khối u ở não của chuột, đạt được hiệu quả trị liệu tốt. A deno virus gây ra bệnh cảm thông thường có thể xâm nhập và giết chết tế bào khối u trong não của chuột, nhưng hoàn toàn không ảnh hưởng đến chức năng bình thường của các tế bào khỏe mạnh khác trong cơ thể chuột. Nó có thể khiến cho con chuột bị khối u não ác tính sống thêm được hơn 120 ngày nữa, phương pháp trị liệu bằng vi rút này có hiệu quả với 60% chuột thí nghiệm. Nhà khoa học chủ trì thí nghiệm này nói rằng: phương pháp trị liệu này mang lại niềm hy vọng cho những bệnh nhân có khối u não không thích hợp dùng phẫu thuật.
与上述发现相隔不久,加拿大的科学家也发现了一种能够杀死癌细胞的病毒,这是一种遍布人体的滤过性病毒,它对人体无害,但可以杀死不同种类的癌细胞。研究人员用老鼠进行实验,发现注入这种病毒后,老鼠身上的恶性肿瘤就会消失。提起艾滋病病毒,人们总会把它和死亡联系在一起。然而,有的科学家却大胆尝试用这些令人闻风丧胆的病毒来“以毒攻毒”,开辟了一种治疗中枢神经系统疾病的新方法。帕金森综合症和老年性痴呆症是两种常见的中枢神经系统的疾病。科学家设想,用艾滋病病毒中携带的遗传因子,替代患者身体细胞内有缺陷的遗传基因,可以治疗这些疑难病症。
Cách phát hiện nói trên không lâu, các nhà khoa học Canada cũng đã phát hiện ra một loại vi rút có thể giết chết tế bào ung thư, đây là một loài vi rút mang tính sàng lọc rải rác trong cơ thể người, nó vô hại với cơ thể người, nhưng có thể giết chết những loại tế bào ung thư khác nhau. Những người nghiên cứu dùng chuột để tiến hành thí nghiệm, phát hiện sau khi tiêm loại vi rút này vào, khối u ác tính trong cơ thể chuột sẽ biến mất. Nhắc đến vi rút gây bệnh Aids, mọi người sẽ luôn liên hệ nó với cái chết. Nhưng có nhà khoa học lại can đảm thử dùng vi rút khiến người ta nghe mà sợ mất mật này để “lấy độc trị độc”, mở ra một phương pháp mới trong việc trị liệu các bệnh thuộc hệ thần kinh trung ương. Hội chứng Par Kin Son và chứng lú lẫn ở người già là hai loại bệnh thuộc hệ thần kinh trung ương thường gặp. Các nhà khoa học có ý tưởng rằng: dùng gen di truyền mang theo trong vi rút gây bệnh Aids mang theo thay thế cho gen di truyền bị thiếu hụt trong tế bào cơ thể người bệnh, có thể điều trị những chứng bệnh khó chữa.
◆ 如果设有病毒,生态不会如此平衡
Nếu không có vi rút, sinh thái sẽ không cân bằng như vậy
地球上所有的物种都是在过去的35亿年间产生、繁衍和进化的,其中一些物种之间在进化过程中相互作用,病毒也一样,在漫长的进化过程中,它们曾经“试探”了各种各样的宿主。如果对方的“抗性”太弱,便会被“斩尽杀绝”。就在这漫长而又不断“磨合”的过程中,物种之间形成了相对稳定的协同进化关系,生态系统也平衡下来。
Trên trái đất, tất cả các loài đều được sản sinh, nảy nở và tiến hóa trong vòng 3 tỷ 500 triệu năm về trước, giữa một vài loài trong số đó có tác dụng lẫn nhau trong quá trình tiến hóa, vi rút cũng vậy, trong quá trình tiến hóa lâu dài, chúng đã từng “thăm dò” đủ loại vật chủ. Nếu sức đề kháng của đối phương quá yếu, sẽ bị “tiêu diệt tận gốc”. Chính trong quá trình kéo dài và không ngừng “cọ xát” này, giữa các loài hình thành nên mối quan hệ cùng tiến hóa tương đối ổn định, hệ sinh thái cũng cân bằng trở lại.
然而,当一个物种接触到陌生的病毒,因为没有抵抗力而无法控制病毒的大量繁衍,病毒种群便会大爆发,灾难也就出现了。除了这种方式,病毒自身也可能发生变异和出现返祖现象,而导致宿主原有的抵抗力减弱或消失。其实,自然界中的很多灾难,包括外来物种入侵,正是由于这个原因。
Tuy nhiên, khi một loài tiếp xúc với vi rút lạ, do không có sức đề kháng mà không có cách nào khống chế được sự sinh sôi với số lượng lớn của vi rút, quần thể vi rút cũng sẽ bùng phát, tai họa cũng liền xuất hiện. Ngoài cách thức này, bản thân vi rút cũng có thể phát sinh biến dị và xuất hiện hiện tượng lại giống, và dẫn đến sức đề kháng vốn có của vật chủ yếu đi hoặc mất đi. Thực ra, rất nhiều tai họa trong giới tự nhiên, bao gồm sinh vật bên ngoài xâm nhập vào, chính là do nguyên nhân này.
19世纪,欧洲的兔子随着英帝国的殖民者来到澳大利亚,因为当地牧草丰富,又无高等食肉动物,致使兔子数量剧增,仅百年时间,当地野兔已达70亿只。兔子与羊争牧草,并打洞破坏草原,严重危害了草原生态平衡和畜牧业发展。于是,澳大利亚政府在1950年“蓄意”引入了一种粘液瘤病毒,这种病毒一旦感染欧洲兔,死亡率几乎达百分之百,而它的天然传播媒介是蚊子。开始时很成功,在澳大利亚东南部有蚊子肆虐的地区,兔瘟疫像野火般蔓延,3年内就沿着南部海岸到达了澳大利亚西部,杀死各地99%的兔子。但好景不长,不久,杀死率逐渐降低,兔子数量渐渐回升。为何会出现这种现象呢?实验表明,野兔身上病毒的毒性减弱,而且它们抵抗病毒的能力也大大提高了。可以说,澳洲人在不经意间做了一项大规模的“物竞天择”实验。
Thế kỷ 19, loài thỏ châu Âu theo thực dân Anh đến Úc, bởi vì cỏ ở nơi này rất phong phú, lại không có động vật ăn thịt cấp cao, làm cho số lượng thỏ tăng mạnh, chỉ trong vòng trăm năm, loài thỏ hoang của vùng này đã đạt tới 7 tỷ con. Thỏ và dê tranh nhau cỏ ăn, đồng thời đào hang phá hủy những đồng cỏ ăn, làm nguy hại nghiêm trọng tới sự cân bằng sinh thái đồng cỏ và sự phát triển ngành chăn nuôi gia súc. Thế là, vào năm 1950 ,chính phủ Úc đã “rắp tâm” đưa vào một loại vi rút myxoma, loại vi rút này một khi nhiễm bệnh cho thỏ châu Âu, tỉ lệ chết đi hầu như đạt tới 100%, mà trung gian lan truyền tự nhiên của nó là muỗi. Khi bắt đầu thì rất thành công, vùng Đông Nam của Úc có khu vực mà muỗi tự do hoành hành, bệnh dịch ở thỏ lan tràn giống như lửa đồng, trong 3 năm liền men theo bờ biển miền Nam đến miền Tây nước Úc, giết chết đến 99% loài thỏ mỗi vùng. Nhưng tình hình tốt đẹp không kéo dài, không lâu sau đó, tỷ lệ giết hại dần dần giảm xuống số lượng thỏ dần tăng trở lại. Tại sao lại có hiện tượng này? Thực nghiệm cho thấy, tính độc hại của vi rút trên thỏ hoang yếu dần, hơn nữa khả năng đề kháng vi rút của chúng càng được nâng cao. Có thể nói, người Úc vô tình đã làm ra một cuộc thí nghiệm “cạnh tranh sinh tồn” với quy mô lớn.
