在许许多多的冬眠动物中,冬眠时间最长的当推睡鼠。它每年有5个月~6个月的时间处于冬眠状态。据报道,英国有一只睡鼠竟酣睡了6个月23天,可谓是世界上冬眠时间最长的动物了。
Trong số rất nhiều những động vật ngủ đông, chuột sóc được xem là loài động vật có thời gian ngủ đông dài nhất. Mỗi năm nó có thời gian từ 5 – 6 tháng ở vào trạng thái ngủ đông. Theo báo cáo, nước Anh có một con chuột sóc ngủ say đến 6 tháng 23 ngày, có thể gọi là loài động vật có thời gian ngủ đông dài nhất trên thế giới.
大部分睡鼠分布在欧亚大陆和非洲北部。睡鼠外形大致与松鼠相似,眼大,毛柔软,前肢短,耳朵大而圆,有一条长满毛的、蓬松的尾。睡鼠身体长60毫米~190毫米。与松鼠一样,睡鼠善攀爬,坐着进食;与松鼠不同的是它夜出活动。睡鼠生活在树上、灌木丛中和岩壁上用植物材料筑成的巢中。它们白天在树洞或丛林中睡觉,晚上外出寻找食物,主要以果实、鸟卵、昆虫和小动物为食。有时睡鼠会危害果园,将每个果实食去一小部分。它们的感觉敏锐、行动灵巧,如在地上感到“风吹草动”,立即爬上树顶。
Đa số loài chuột sóc được phân bố ở đại lục Á Âu và phiá bắc châu Phi. Bề ngoài chuột sóc gần giống với sóc, mắt to, lông mềm mại, chi trước ngắn, tai to tròn, có chiếc đuôi với bộ lông dài và dày, bung xoè. Thân hình chúng dài từ 60 – 190mm. Giống hệt sóc, chúng rất giỏi leo trèo, ăn ngồi, điểm khác biệt giữa chúng với sóc là chúng hoạt động về đêm. Chúng thường sống trên cây, trong bụi cây và trên vách đá, dùng chất liệu thực vật để làm tổ. Ban ngày chúng ngủ trong hốc cây hay trong rậm cây, ban đêm mới ra ngoài kiếm ăn, thức ăn chủ yếu của chúng là trái cây, trứng chim, côn trùng và các loài động vật nhỏ. Đôi khi, chuột sóc gây nguy hại cho vườn cây ăn trái, mỗi quả chúng ăn mất một góc nhỏ. Giác quan của loài này rất nhạy bén, hành động linh hoạt, như khi ở trên đất mà cảm nhận được chút động tĩnh nhỏ nào, là chúng lập tức trèo ngay lên ngọn cây.
睡鼠的种类较多,都有冬眠习性。其中产于日本的日本睡鼠的尾巴比身体长,脊中央有一条黑纹,容易识别。产于欧洲和北非的田园睡鼠的尾巴能脱落后再生,这一现象在哺乳动物中是极为罕见的。非洲睡鼠仅分布于非洲大陆的森林中,呈灰色或浅褐色,其他地区是没有的。在秋天睡鼠体内储存大量脂肪,冬天大部分时间睡眠,偶尔醒来吃些储备的食物。这两种睡鼠可从9月或10月一直休眠到次年4月。
Chủng loại của chuột sóc khá nhiều, đều có tập tính ngủ đông. Trong đó, đuôi chuột sóc Nhật Bản sinh sống ở Nhật Bản dài hơn so với thân hình của chúng, giữa sống lưng có một đường sọc đen, rất dễ phân biệt. Đuôi của chuột sóc sinh sống ở vùng quê Châu Âu và Bắc Phi có thể mọc lại sau khi bị rụng mất, đây là một hiện tượng cực kỳ hiếm thấy trong loài động vật có vú. Chuột sóc Châu Phi chỉ phân bố trong rừng rậm của đại lục Châu Phi, chúng có màu xám hoặc nâu nhạt, không có ở các khu vực khác. Vào mùa thu, trong cơ thể chúng tích trữ một lượng mỡ lớn, mùa đông đa số chúng đều ngủ đông, thỉnh thoảng tỉnh dậy để nhấm nháp chút thức ăn dự trữ. Hai loại chuột sóc này có thể ngủ đông từ tháng 9 hoặc tháng 10 đến tận tháng 4 năm sau.
睡鼠一年通常只生育一次,有时两次。妊娠期约3周~4周,一窝产2仔~9仔。可食睡鼠是这类动物中最大者,身体呈灰色,最大体长约20厘米,尾长15厘米,又称肥睡鼠,古罗马人在特殊的围场(可食睡鼠围场)内饲养这种睡鼠,以供食用。普通睡鼠体小,不计尾长为5厘米~10厘米,呈黄褐色,喉部和足趾为白色。
Chuột sóc mỗi năm thường chỉ sinh sản một lần, có khi hai lần. Thời kì mang thai từ 3 đến 4 tuần, mỗi lứa sinh từ
2 – 9 con. Loài chuột sóc ăn được là loài có hình dạng to lớn nhất trong dòng họ chuột sóc, thân hình nó có màu xám, chiều dài lớn nhất khoảng 20mm, đuôi dài 15mm, còn được gọi là chuột sóc mập, người La Mã cổ thường nuôi loài chuột sóc này trong bãi săn đặc biệt (bãi nuôi chuột sóc ăn được) để dùng làm thức ăn. Chuột sóc thông thường cơ thể nhỏ, không tính phần đuôi, dài từ 5 – 10mm, có màu vàng nâu, vùng cổ và ngón chân có màu trắng.
